CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 1. Dự án đầu tư xây dựng công trình 1. Khái niệm Dự án đầu tư xây dựng công trình Theo lý thuyết hệ thống thì: “Quản lý dự án là điều khiển một quá trình hoạt động của hệ thống trong một quỹ đạo mong muốn, nhằm đạt được mục đích cuối cùng là tạo ra các sản phẩm như mục tiêu đề ra”. Như vậy, theo cách này quản lý dự án là điều khiển một hệ thống đã có trước, với một loạt các điều kiện ràng buộc, các nguyên tắc, các phát sinh xảy ra trong quá trình sản xuất.
Ben Obinero Uwakweh (Trường Đại học Cincinnati – Mỹ) [33] “Quản lý dự án là sự lãnh đạo và phối hợp các nguồn lực và vật tư để đạt được các mục tiêu định trước về: Phạm vi, chi phí, thời gian, chất lượng và sự hài lòng của các bên tham gia. Đó là sự điều khiển các hoạt động của một hệ thống (dự án) trong một quỹ đạo mong muốn. Với các điểu kiện ràng buộc và các mục tiêu định trước”. Theo Viện quản lý dự án quốc tế PMI (2007) “Quản lý dự án chính là sự áp dụng các hiểu biết, khả năng, công cụ và kỹ thuật vào một tập hợp rộng lớn các hoạt động nhằm đáp ứng yêu cầu của một dự án cụ thể”.
Theo Tổ chức tiêu chuẩn Vương Quốc Anh: “Quản lý dự án là việc lập kế hoạch, giám sát và kiếm tra tất cả các khía cạnh của dư án và thúc đẩy tất cả các thành phần liên quan dẽn dự án nhằm đạt dươc mục tiêu của dự án theo đúng thời hạn đã định với chi phí, chất lượng và phương pháp đã được xác định” Theo PMBOK (A Guid to the Project Management Body of Knowlegde) “Quản lý dự án là sự áp dụng kiến thức, kỹ năng, kỹ thuật và công cụ vào các hoạt động dự án đê thỏa mãn các yêu cầu đối với dự án”. Theo Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014, tại Điều 3 quy định thì dự án đầu tư xây dựng công trình là một tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình 6 hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo các nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo các nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng. Dự án đầu tư xây dựng công trình có: Mục đích, mục tiêu rõ ràng; Có chu kỳ riêng và thời gian tồn tại hữu hạn: Hình thành, phát triển, có điểm bắt đầu và kết thúc; Liên quan đến nhiều bên và có sự tương tác phức tạp giữa các bộ phận quản lý chức năng và quản lý dự án; Sản phẩm cơ bản mang tính đơn chiếc và độc đáo; Bị hạn chế bởi các nguồn lực; Luôn có tính bất định và rủi ro; Tính trình tự trong quá trình thực hiện; Đều có người uỷ quyền chỉ định riêng hay còn gọi là khách hàng.
Phân loại Dự án đầu tư xây dựng công trình Theo Quy định hiện nay, dự án đầu tư xây dựng được phân loại theo quy mô, tính chất, loại công trình xây dựng và nguồn vốn sử dụng. Phân loại theo tiêu thức này dự án gồm: Dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, dự án nhóm B, dự án nhóm C theo các tiêu chí quy định của pháp luật về đầu tư công. (Chi tiết phụ lục 2: Phân loại dự án) Ngoài ra dự án đầu tư xây dựng công trình còn có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau. Phân loại dự án đầu tư xây dựng công trình TT Tiêu thức phân Các loại dự án 1 Theo cấploại độ Dự án thông thường; chương trình; hệ thống.
2 Theo quy mô Dự án nhóm A; nhóm B; nhóm C. 3 Theo lĩnh vực Dự án xã hội; kinh tế; tổ chức hỗn hợp. 4 Theo loại hình Dự án giáo dục đào tạo; nghiên cứu và phát triển; đổi mới; đầu tư; tổng hợp. 7 TT Tiêu thức phân Các loại dự án loại Dự án ngắn hạn (từ 1 đến 2 năm), thường là đầu tư cho các công trình đáp ứng lợi ích trước mắt; trung hạn (từ 3 đến 5 năm), thường cho các công trình đáp 5 Theo thời hạn ứng lợi ích trung hạn; dài hạn (trên 5 năm), thường là đầu tư cho các công trình chiến lược để đáp ứng lợi ích dài hạn và đón đầu tình thế chiến lược.
6 Theo khu vực Quốc tế; quốc gia; vùng; miền; liên ngành; địa phương. 7 Theo chủ đầu tư Nhà nước; doanh nghiệp; cá thể riêng lẻ. 8 Theo đối tượng đầu Dự án đầu tư tài chính; dự án đầu tư vào đối tượng tư vật chất cụ thể. Vốn từ ngân sách Nhà nước; vốn ODA; vốn tín dụng; vốn tự huy động của DN Nhà nước; vốn liên 9 Theo nguồn vốn doanh với nước ngoài; vốn đóng góp của nhân dân; vốn của các tổ chức ngoài quốc doanh; vốn FDI,.
Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình 1. Khái niệm về quản lý dự án đầu tư Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng quá trình đầu tư (bao gồm công tác chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và vận hành kết quả đầu tư cho đến khi thanh lý tài sản do đầu tư tạo ra) bằng một hệ thống đồng bộ các biện pháp nhằm đạt được hiệu quả kinh tế xã hội cao trong những điều kiện cụ thể xác định và trên cơ sở vận dụng sáng tạo những quy luật kinh tế khách quan nói chung và quy luật vận động đặc thù của đầu tư nói riêng. Quản lý dự án là việc giám sát, chỉ đạo, điều phối, tổ chức, lên kế hoạch đối với các giai đoạn của chu kỳ dự án trong khi thực hiện dự án. Việc quản lý tốt các giai đoạn của dự án có ý nghĩa rất quan trọng vì nó quyết định đến chất lượng của sản phẩm xây dựng.
8 Như vậy, quản lý dự án thực chất là việc áp dụng những hiểu biết, kỹ năng, công cụ, kỹ thuật vào hoạt động dự án nhằm đạt được những yêu cầu và mong muốn từ dự án. Quản lý dự án còn là quá trình lập kế hoạch tổng thể, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án từ khi bắt đầu đến khi kết thúc nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ , bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép. Bản chất của quản lý dự án chính là sự điều khiển một hệ thống gồm ba thành phần cơ bản đó là con người, phương tiện (công cụ) và hệ thống quản lý. Đạt được sự kết hợp hài hoà giữa 3 thành phần trên thì sẽ đạt được sự quản lý dự án tối ưu.
Quản lý dự án gồm hai hoạt động cơ bản đó là hoạch định và kiểm soát việc sử dụng con người và phương tiện để vận hành một hệ thống sao cho đảm bảo mục tiêu đã đề ra. Con người: cần phải am hiểu về lý thuyết quản lý và những kiến thức hỗ trợ cũng hết sức cần thiết để giải quyết các công việc có liên quan trong các mối quan hệ hết sức phức tạp của các dự án, trong điều kiện xã hội có rất nhiều ràng buộc; Phương tiện: Trong điều kiện tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện nay, ngoài những công cụ phục vụ quản lý thông thường, các nhà quản lý đầu tư còn sử dụng rộng rãi hệ thống lưu trữ và xử lý thông tin hiện đại (cả phần cứng và phần mềm), hệ thống bưu chính viễn thông, thông tin liên lạc điện tử, các phương tiện đi lại trong quá trình điều hành và kiểm tra hoạt động của từng dự án đầu tư; Hệ thống quản lý: Cần thiết phải xây dựng một hệ thống phù hợp với điều kiện của dự án để vận hành nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. (Nguồn: Trang web: https://dautuduan.net) Mục tiêu cơ bản của quản lý dự án thể hiện ở chỗ các công việc phải được hoàn thành theo yêu cầu đảm bảo chất lượng, trong phạm vi chi phí được duyệt, đúng thời gian và giữ cho phạm vi dự án không bị thay đổi. Ba yếu tố chính gồm thời gian, chi phí, chất lượng: có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Tầm quan trọng của từng mục tiêu có thể khác nhau đối với từng dự án, đối với từng giai đoạn của một dự án, nhưng nói chung để đạt được kết quả tốt đối với mục tiêu này thì thường phải 9 hy sinh một hoặc hai mục tiêu kia. Ở mỗi giai đoạn của quá trình quản lý dự án, có thể một mục tiêu nào đó trở thành yếu tố quan trọng nhất cần phải tuân thủ trong khi các mục tiêu khác có thể thay đổi, do đó, việc đánh đổi mục tiêu có thể ảnh hưởng đến kết quả thực hiện các mục tiêu khác. Trong quá trình quản lý dự án, các nhà quản lý dự án luôn mong muốn đạt được một cách tốt nhất tất cả các mục tiêu đề ra. Tuy nhiên, thực tế của hầu hết các dự án không hề đơn giản.
Dù phải đánh đổi hay không các mục tiêu của dự án, các nhà quản lý cũng luôn hy vọng đạt được sự kết hợp tốt nhất giữa các mục tiêu của quản lý dự án. Chủ thể và các hình thức tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng 1. Chủ thể QLDA đầu tư xây dựng Quá trình quản lý đầu tư và xây dựng của một dự án có sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau được minh họa qua mô hình sau: Cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng Người có thẩm quyền đầu tư Nhà thầu tư vấn Chủ đầu tư Nhà thầu xây lắp Hình 1. Sơ đồ các chủ thể tham gia quản lý dự án Người có thẩm quyền đầu tư trình các tài liệu đầu đủ vể dự án đầu tư trên cơ sở đã được khảo sát, tính toán trình Cơ quan QLNN về ĐTXD xin chủ trương đầu tư, nếu được chấp thuận thì Người có thẩm quyền đầu tư về triển khai theo quy định 10 hiện hành, còn không sẽ phải làm rõ bổ sung các vấn đề trong dự án chưa được làm rõ nổi bật.