Chương 1. Cơ sở khoa học quản lý các doanh nghiệp bảo trì kết cấu hạ tầng đường sắt sau cổ phần hóa. Thực trạng quản lý các doanh nghiệp bảo trì kết cấu hạ tầng đường sắt sau cổ phần hóa tại Tổng công ty Đường sắt Việt Nam. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý các doanh nghiệp bảo trì kết cấu hạ tầng đường sắt sau cổ phần hóa tại Tổng công ty Đường sắt Việt Nam.
CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ CÁC DOANH NGHIỆP BẢO TRÌ KẾT CẤU HẠ TẦNG ĐƯỜNG SẮT SAU CỔ PHẦN HÓA 1. Tổng quan về doanh nghiệp sau cổ phần hóa và doanh nghiệp bảo trì kết cấu hạ tầng đường sắt sau cổ phần hóa 1. Tổng quan về doanh nghiệp và doanh nghiệp sau cổ phần hóa 1. Khái niệm doanh nghiệp Trong bất kỳ nền kinh tế nào, doanh nghiệp là đơn vị cơ sở, là một tế bào tế tạo ra của cải vật chất cho xã hội, trực tiếp phối hợp các yếu tố sản xuất một cách hợp lý nhằm tạo ra những sản phẩm hoặc dịch vụ một cách có hiệu quả nhất.
Cùng với quá trình phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin, các hình thức tổ chức doanh nghiệp cũng ngày càng đa dạng và các loại hình sở hữu của doanh nghiệp cũng ngày càng phong phú hơn. Do đó, nếu đứng trên quan điểm khác nhau chúng ta có thể định nghĩa về doanh nghiệp cũng khác nhau: Xét theo quan điểm luật pháp: doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài sản, có quyền và nghĩa vụ dân sự hoạt động kinh tế theo chế độ hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh tế trong phạm vi vốn đầu tư do doanh nghiệp quản lý và chịu sự quản lý của nhà nước bằng các loại luật và chính sách thực thi. Thực chất thì doanh nghiệp là khái niệm chung nhất để chỉ các loại hình doanh nghiệp, trong đó công ty là một loại hình doanh nghiệp và nó rất phổ biến. Trên thế giới, so với các loại hình doanh nghiệp khác, thì công ty xuất hiện muộn hơn, vào khoảng giữa thế kỷ 19.
Trước đó, các hoạt động kinh doanh thực hiện dưới hình thức hợp danh hoặc doanh nghiệp tư nhân. Cũng kể từ thế kỷ 19 và đặc biệt trong nửa đầu thế kỷ 20, công ty là loại hình kinh doanh phát triển mạnh mẽ nhất. Nhiều nước trên thế giới hiện nay, thay vì thiết lập luật doanh nghiệp, đã thiên về quy định tổ chức và hoạt động của các loại hình công ty. Ngoài ra có thể liệt kê hàng loạt những định nghĩa khác nữa khi xem xét 7 e doanh nghiệp dưới những góc nhìn khác nhau.
Song giữa các định nghĩa về doanh nghiệp đều có những điểm chung nhất đó là một doanh nghiệp nhất thiết phải được cấu thành bởi 4 yếu tố: yếu tố tổ chức, yếu tố sản xuất, yếu tố trao đổi, yếu tố phân phối. Theo Luật Doanh nghiệp năm 2020 thì “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Luật cũng quy định có bốn loại hình doanh nghiệp gồm: Doanh nghiệp tư nhân, Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), Công ty cổ phần, Công ty hợp danh. Từ những phân tích trên đây, có thể hiểu doanh nghiệp là đơn vị kinh tế, quy tụ các phương tiện tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội dưới sự quản lý của nhà nước.
Khái niệm doanh nghiệp sau cổ phần hoá Trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không thể không tránh khỏi trường hợp có sự biến động về thành viên, cổ đông trong công ty. Pháp luật doanh nghiệp được xây dựng bao trùm những tình huống này bằng việc quy định doanh nghiệp có thể chuyển đổi loại hình của mình sao cho phù hợp với thực tế mà không phải chấm dứt hoạt động doanh nghiệp rồi thành lập doanh nghiệp mới. Mỗi loại hình doanh nghiệp có những ưu, nhược điểm riêng và phù hợp với quy mô và trình độ phát triển nhất định. Hầu hết các doanh nghiệp lớn hoạt động với tư cách là các công ty.
Theo Luật Doanh nghiệp năm 2020, Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu. Chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Công ty TNHH hai thành viên trở lên là doanh nghiệp có từ 02 đến 50 thành viên là tổ chức, cá nhân. Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và 8 e nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.
Nhược điểm lớn nhất của Công ty TNHH là không được phát hành cổ phần để huy động nguồn lực từ bên ngoài. Khi Công ty TNHH tiến hành phát hành cổ phần ra công chúng, đây chính là quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp và chuyển đổi mô hình hoạt động theo hình thức công ty cổ phần. Theo Luật Doanh nghiệp năm 2020 thì “Công ty cổ phần là pháp nhân có trách nhiệm hữu hạn, được thành lập và tồn tại độc lập so với những chủ thể sở hữu nó. Vốn điều lệ của công ty được chia thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần và có thể phát hành cổ phiếu để huy động vốn tham gia của các nhà đầu tư.
Công ty cổ phần là một tổ chức kinh tế; được đặt tên riêng, có tài sản và trụ sở giao dịch; được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện hoạt động kinh doanh”. Đặc điểm của doanh nghiệp sau cổ phần hoá Doanh nghiệp sau cổ phần hoá là loại hình doanh nghiệp mà ở đó có sự kết hợp ba loại lợi ích: của các cổ đông (chủ sở hữu), của hội đồng quản trị (HĐQT) và của các nhà quản lý. Theo truyền thống, cổ động kiểm soát toàn bộ định hướng, chính sách và hoạt động của công ty. Cổ đông bầu HĐQT, sau đó HĐQT lựa chọn ban quản lý.
Các nhà quản lý quản lý hoạt động của công ty theo cách thức mang lại lợi ích tốt nhất cho cổ đông. Theo Luật Doanh nghiệp năm 2020, công ty cổ phần có các đặc điểm chính sau: Thứ nhất, số lượng thành viên tối thiểu là 03 cổ đông. Cổ đông ở đây có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Công ty cổ phần không bị giới hạn về số lượng tối đa cổ đông trong công ty, công ty có thể có 100 cổ đông, 1000 cổ đông… Thứ hai, cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp, không phải chịu trách nhiệm vô hạn như trong doanh nghiệp tư nhân hay thành viên trong công ty hợp danh.
Thứ ba, vốn điều lệ trong công ty cổ phần được chia thành các cổ phần. 9 e Vốn điều lệ Vốn điều lệ của công ty cổ phần tại thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp là tổng giá trị mệnh giá cổ phần các loại đã được đăng ký mua và được ghi trong Điều lệ công ty Thứ tư, các cổ đông trong công ty cổ phần có quyền tự do chuyển nhượng số cổ phần mình sở hữu cho các cá nhân tổ chức khác trừ trường hợp: (i) trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông sáng lập khác và chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông; (ii) trường hợp Điều lệ công ty có quy định về hạn chế quyền chuyển nhượng cổ phần. Trường hợp này, các quy định đó chỉ có hiệu lực khi được nêu rõ trong cổ phiếu của cổ phần tương ứng. Việc tách rời quyền sở hữu khỏi các nhà quản lý mang lại cho doanh nghiệp cổ phần các ưu thế so với kinh doanh cá thể và góp vốn, gồm: Thứ nhất, Công ty cổ phần không giới hạn số lượng cổ đông tối đa.
Điều này đồng nghĩa với việc nếu doanh nghiệp đăng ký theo hình thức công ty cổ phần thì có thể huy động vốn từ nhiều cổ đông khác nhau do công ty không giới hạn số lượng cổ đông tối đa, vì thế mà các công ty này có thể huy động vốn góp một cách dễ dàng. Bên cạnh đó, vốn điều lệ cũng thường tăng nhanh theo thời gian. Đây là một ưu điểm nổi bật so với các loại hình doanh nghiệp khác chẳng hạn như công ty TNHH. Thứ hai, các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ cũng như nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn góp của mình.
Điều này mang đến rủi ro thấp hơn đối với các cổ đông trong trường hợp doanh nghiệp giải thể hoặc phá sản. Thứ ba, việc chuyển nhượng vốn góp giữa các thành viên của doanh nghiệp được thực hiện một cách đơn giản. Cổ đông khi muốn rút khỏi doanh nghiệp có thể dễ dàng chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho cổ đông khác, chỉ trừ trường hợp khác phải được pháp luật cho phép. Thứ tư, cơ cấu tổ chức vốn của công ty cổ phần khá linh hoạt, tạo điều 10 e kiện tối đa nhất để nhiều người có thể tham gia góp vốn.
Doanh nghiệp hoạt động theo loại hình công ty cổ phần có thể huy động vốn dễ dàng, đa dạng dưới nhiều hình thức như: Phát hành cổ phần chào bán cho cổ đông hiện hữu, chào bán cho các cổ đông mới. Công ty cổ phần có thể tham gia sàn chứng khoản để huy động vốn, các loại hình doanh nghiệp khác không thực hiện được điều này Tuy nhiên, ngoài những ưu điểm nêu trên thì nhược điểm lớn nhất của công ty cổ phần chính là khó khăn trong việc điều hành cơ cấu bộ máy doanh nghiệp.Bộ máy quản lý, tổ chức trong công ty cổ phần phức tạp. Thông thường sẽ bao gồm: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Đại diện theo pháp luật của công ty, Các phòng ban, chuyên môn, Ban kiểm soát.