lời mở đầu, kết luận, phụ lục. nội dung của luận văn được chia thành ba chương như sau: Chƣơng 1: Thành phần, nội dung và ý nghĩa của tài liệu lƣu trữ hình thành trong hoạt động của Tổng Công ty Đƣờng sắt Việt Nam Chƣơng 2: Cơ sở lý luận và thực trạng tổ chức, quản lý công tác lƣu trữ tại Tổng công ty Đƣờng sắt Việt Nam (nghiên cứu tại Tổng công ty và một số đơn vị trực thuộc Tổng công ty có trụ sở đóng trên địa bàn thành phố Hà Nội). 9 Chƣơng 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức, quản lý công tác lƣu trữ tại Tổng công ty Đƣờng sắt Việt Nam. Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy (cô) giáo, cán bộ, chuyên viên, nhân viên của TCTĐSVN và một số đơn vị trực thuộc Tổng công ty nơi tôi đến khảo sát và đặc biệt là sự định hướng, giúp đỡ của PGS.TS Vũ Thị Phụng – người đã hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này.
Nhân đây tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới quý thầy (cô), bạn bè trong lớp cao học khóa 2010 – 2015, đồng nghiệp, gia đình và cô giáo hướng dẫn đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn. Do điều kiện thời gian và trình độ bản thân có hạn nên luận văn không tránh khỏi một số thiếu sót nhất định. Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy (cô), bàn bè đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn. Hà Nội, ngày tháng năm 2015 Tác giả Trần Thị Vân Anh 10 PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1: THÀNH PHẦN, NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA CỦA TÀI LIỆU LƢU TRỮ HÌNH THÀNH TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA TỔNG CÔNG TY ĐƢỜNG SẮT VIỆT NAM 1.
Lịch sử hình thành và phát triển của Tổng Công ty Đƣờng sắt Việt Nam Đường sắt Việt Nam là một trong những ngành công nghiệp lâu đời của Việt Nam. Ngành Đường sắt Việt Nam ra đời năm 1881 bằng việc khởi công xây dựng tuyến Đường sắt đầu tiên đi từ cột cờ Thủ Thiêm đến bến xe Chợ Lớn dài 13 km. Chuyến tàu đầu tiên khởi hành ở Việt Nam là vào ngày 20 tháng 7 năm 1885. Những năm sau đó, mạng lưới Đường sắt tiếp tục được triển khai xây dựng trên khắp lãnh thổ Việt Nam theo công nghệ đường sắt của Pháp với khổ đường ray một mét.
Thời kỳ chiến tranh, Hệ thống Đường sắt bị hư hại nặng nề. Kể từ năm 1986, Chính phủ Việt Nam tiến hành khôi phục lại các tuyến đường sắt chính và các ga lớn, đặc biệt là tuyến Đường sắt Bắc Nam [18; tr. Lịch sử Đường sắt Việt Nam giai đoạn (1881–1954) 1. Giai đoạn trước 1945 - Năm 1902, Pháp xây dựng xong Đường sắt Hà Nội – Đồng Đăng; - Năm 1902, Pháp xây dựng xong Đường sắt Hà Nội – Hải Phòng; - Năm 1906, Pháp xây dựng xong Đường sắt Hà Nội – Lào Cai; - Năm 1931, Pháp xây dựng xong Đường sắt Tháp Chàm – Đà Lạt; - Năm 1933, Pháp xây dựng xong Đường sắt Sài Gòn – Lộc Ninh; - Năm 1899 - 1936, Pháp xây dựng xong tuyến Đường sắt Bắc Nam.
Giai đoạn 1945 - 1954 Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 28 tháng 8 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã Chính thức ký Quyết định thành lập Bộ Giao thông Công chính thuộc Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trong 11 đó có Sở Hỏa Xa - Cơ quan Quản lý Nhà nước và khai thác về Đường sắt Việt Nam. Và từ đây, Hệ thống Đường sắt Việt Nam đã thực sự trở thành tài sản của người Việt Nam, phục vụ người dân nước Việt [18, tr. Lịch sử Đường sắt Việt Nam giai đoạn (1954 – đến nay) 1. Giai đoạn 1954 - 1975 Ngày 6/4/1955 Tổng cục Đường sắt Việt Nam được thành lập theo Quyết định số: 505/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Tổng Cục Đường sắt trực thuộc Bộ Giao thông và Bưu điện (trước đó là Bộ Giao thông Công chính).
Cơ cấu của Tổng Cục Đường sắt bao gồm: - Văn phòng Tổng Cục Đường sắt; - Cục Cầu đường Đường sắt; - Nhà máy Xe lửa Gia Lâm; - Cục Vận chuyển Đường sắt; - Cục Kiến thiết Cơ bản Đường sắt; - Ban Chỉ huy Quân sự Đường sắt; - Ty Công an Đường sắt; - Ty Y tế Đường sắt; - Ty Thông tin Tín hiệu Đường sắt; - Trường Đảng Tổng Cục Đường sắt [18] 1. Giai đoạn 1954 – 1964 Trong 10 năm (1954 – 1964), Hệ thống Đường sắt miền Bắc đã được xây dựng và khôi phục lại với những tuyến đường chính là Hà Nội – Lào Cai; Hà Nội - Hải Phòng, Hà Nội - Lạng Sơn. Những tuyến đường này đã có vai trò quan trọng phục vụ đi lại, khôi phục kinh tế miền Bắc trong nhiều năm thời điểm đó và còn phát huy tác dụng đến bây giờ. Một Tuyến Đường sắt khác được xây dựng là Hà Nội – Thái Nguyên với 164 km cũng hoàn thành trong giai đọan này [18] 12 1.
Giai đoạn 1964 – 1975 Những sự kiện nổi bật ghi dấu ấn của Ngành trong giai đoạn này là duy trì vận chuyển hàng viện trợ và chở bộ đội trên các tuyến đường từ Bắc vào Vinh với phong trào "Tất cả vì miền Nam thân yêu" do Hồ Chí Minh phát động. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam và Hồ Chí Minh, Ngành Đường sắt miền Bắc đã lập nên những kỳ tích huy hoàng, góp phần quan trọng vào chiến thắng của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Hoa Kỳ oanh liệt. Tính đến năm 1971 - 1972 thì Việt Nam Cộng hòa có 1.240 km đường sắt nhưng vì chiến cuộc và an ninh nên chỉ có 57% sử dụng được. Dù vậy, tổng lượng hành khách và hàng hóa chuyên chở bằng đường sắt tăng dần.
Cụ thể: - Năm 1968, Tổng lượng hàng hóa vận tải 400.000 tấn; Số lượng hành khách 0,73 triệu; - Năm 1969, Tổng lượng hàng hóa vận tải 530.000 tấn; Số lượng hành khách 1,75 triệu; - Năm 1970, Tổng lượng hàng hóa vận tải 720.000 tấn; Số lượng hành khách 2,4 triệu;[18] 1. Giai đoạn 1975đến nay a. Thời kỳ đầu Cơ cấu của Tổng Cục Đường sắt bao gồm: - Văn phòng Tổng Cục; - Các Vụ Tham mưu; - Cục Cơ khí - Cầu đường Đường sắt; - Cục Vận chuyển; - Ban Chỉ huy Quân sự Đường sắt (năm 1980 trực thuộc Bộ Quốc phòng); - Sở Y tế Đường sắt (năm 1994 chuyển thành Sở Y tế Giao thông Vận tải trực thuộc Bộ Giao thông Vận tải); 13 - Sở Thông tin Tín hiệu Đường sắt; - Trường Đảng Tổng Cục Đường sắt; - Trường Cao đẳng Đường sắt; - Các Công ty Công trình Cầu đường Đường sắt; - Nhà máy Xe lửa Gia Lâm. Thời Bao cấp Ngày 31 tháng 12 năm 1976, đầu máy này đã kéo đoàn tàu đầu tiên khai thông tuyến đường sắt Bắc Nam, hiện vật đang được trưng bày tại Ga Sài Gòn.
Các Ty Quản lý trực thuộc Tổng Cục Đường sắt chuyển thành Sở và nhiều doanh nghiệp quốc doanh của Ngành Đường sắt đã ra đời và giữ vững mô hình hoạt động đến năm 1986. Thời đổi mới đến nay - Từ năm 1989 đến ngày 4 tháng 3 năm 2003, ngành Đường sắt được cơ cấu lại thành một Doanh nghiệp Nhà nước với tên là Liên hiệp Đường sắt Việt Nam, hoạt động trên nguyên tắc thị trường mở. - Từ ngày 7 tháng 7 năm 2003, Đường sắt Việt Nam chính thức đi vào hoạt động theo mô hình tổ chức mới bao gồm: Cục Đường sắt Việt Nam - Cơ quan Quản lý Nhà nước về đường sắt; và Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam. - Năm 2004, Quốc hội đã thông qua Luật Đường sắt.
Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử, ngành Đường sắt có bộ luật điều chỉnh lĩnh vực của Ngành. - Năm 2010 Chuyển Công ty mẹ - Tổng Công ty ĐSVN thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu theo Quyết định số 973/QĐ-TTg ngày 25/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ. - Ngày 13 tháng 11 năm 2013 Chính Phủ ban hành Nghị định số: 175/2013/NĐ-CP về Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tổng công ty Đường sắt Việt Nam [18, tr. Khái quát chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Tổng công ty đƣờng sắt Việt Nam Căn cứ Nghị định số: 175/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 13 tháng 11 năm 2013 về Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tổng công ty Đường sắt Việt Nam; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng công ty Đường sắt Việt Nam được quy định như sau: 1.
Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn 1. Chức năng Tổng công ty Đường sắt Việt Nam có chức năng trực tiếp sản xuất, kinh doanh và đầu tư tài chính vào các công ty con, công ty liên kết; quản lý, chỉ đạo, chi phối các công ty con, công ty liên kết theo tỷ lệ chiếm giữ vốn điều lệ tại các công ty đó theo quy định của pháp luật; quản lý, khai thác có hiệu quả quỹ nhà, quỹ đất thuộc TCTĐSVN; tổ chức cứu hộ, cứu nạn, đảm bảo an ninh, trật tự. an toàn giao thông vận tải đường sắt theo quy định [12, tr. Nhiệm vụ, quyền hạn a.
Nhiệm vụ Kinh doanh có lãi; bảo toàn và phát triển vốn chủ sở hữu đầu tư tại Đường sắt Việt Nam và của Đường sắt Việt Nam đầu tư tại các doanh nghiệp khác; hoàn thành các nhiệm vụ khác do chủ sở hữu giao. Tối đa hóa hiệu quả hoạt động của Đường sắt Việt Nam và các đơn vị thành viên. Phát triển Đường sắt Việt Nam có trình độ công nghệ, quản lý hiện đại và chuyên môn hóa cao; kinh doanh đa ngành, trong đó quản lý, khai thác hệ thống kết cấu hạ tầng đường sắt, điều hành giao thông vận tải đường sắt và vận tải đường sắt là các ngành, nghề kinh doanh chính; gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất, kinh doanh với khoa học, công nghệ, nghiên cứu, đào tạo; có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế; làm nòng cốt để ngành Đường sắt Việt 15 Nam phát triển nhanh và bền vững, cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả [12, tr. Quyền hạn - Quyền đối với vốn và tài sản: ĐSVN có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt vốn và tài sản để kinh doanh, thực hiện các lợi ích hợp pháp từ vốn và tài sản của Đường sắt Việt Nam theo quy định của pháp luật.
- Quyền kinh doanh và tổ chức kinh doanh: Chủ động tổ chức sản xuất, kinh doanh, kế hoạch phối hợp sản xuất, kinh doanh, tổ chức bộ máy quản lý theo yêu cầu kinh doanh và đảm bảo kinh doanh có hiệu quả.