Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý công chức ở các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Chương 2: Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương 11 e Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG CỦA TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CÔNG CHỨC Ở CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP TỈNH 1. Một số khái niệm 1.
Công chức và quản lý công chức ở các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh 1. Công chức và công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh: Công chức: Hiện nay, có nước giới hạn công chức trong phạm vi những người tham gia các hoạt động QLNN hoặc các hoạt động công quyền. Trong khi đó, một số nước lại có quan niệm rộng hơn khi cho rằng, công chức không chỉ bao gồm những người thực hiện trực tiếp các hoạt động QLNN, hoạt động công quyền mà còn bao gồm cả những người làm việc trong các cơ quan dịch vụ có tính chất công cộng. Theo cách xác định của các quốc gia đã trải qua nhiều năm thực hiện và có kinh nghiệm về chế độ công chức thì công chức được hiểu là những công dân được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của nhà nước ở trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước.
Cùng với “cán bộ”, “viên chức”, “công chức” còn là thuật ngữ thường được hiểu một cách khái quát là những người được nhà nước tuyển dụng, nhận một công vụ hoặc một nhiệm vụ nhất định, do nhà nước trả lương và có nghĩa vụ, bổn phận phục vụ nhân dân, phục vụ nhà nước theo các quy định của pháp luật. Ở nước ta, thuật ngữ “công chức” lần đầu tiên được ghi nhận trong Quy chế công chức Việt Nam ban hành theo Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo Quy chế này, khái niệm công chức được 12 e hiểu như sau: “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ngoài nước đều là công chức theo quy chế này, trừ những trường hợp do Chính phủ quy định”. Theo đó, phạm vi công chức rất hẹp chỉ bao gồm những người làm việc thường xuyên trong cơ quan Chính phủ, tức là những người làm việc trong hệ thống HCNN.
Tuy nhiên, do điều kiện cả nước phải tập trung vào cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc, nên Quy chế công chức không được thực hiện đầy đủ. Trong những năm 1960-1980, hoạt động của CBCC được điều chỉnh bằng những quy định của pháp luật lao động nói chung. Cùng với quá trình đổi mới toàn diện đất nước, thuật ngữ công chức được sử dụng lại trong các văn kiện của Đảng và văn bản pháp luật của Nhà nước. Ngày 25/5/1991 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định 169/HĐBT xác định khái niệm công chức: “Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong công sở Nhà nước ở trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước đã được thu xếp vào một ngạch hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp gọi là công chức”.
Khái niệm này nêu khá đầy đủ các dấu hiệu cơ bản của công chức trong nền hành chính hiện đại. Ngày 26/2/1998, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh CBCC. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để Nhà nước quản lý và xây dựng đội ngũ CBCC. Do yêu cầu thực tiễn, ngày 29/4/2003, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh sửa đổi bổ sung một số điều của Pháp lệnh CBCC, trong đó làm rõ đối tượng điều chỉnh CBCC hành chính, sự nghiệp, bổ sung cán bộ chuyên trách ở xã, phường, thị trấn vào phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh, đồng thời, xây dựng chế độ công chức dự bị trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, chính trị xã hội.
13 e Ngày 13/11/2008, Quốc hội khóa XII đã ban hành Luật CBCC, pháp luật hóa ở mức cao nhất chế định CBCC ở nước ta. Điều 4, Luật CBCC xác định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Công chức được phân loại theo trình độ đào tạo và theo vị trí công tác. Theo trình độ đào tạo gồm có công chức loại A, B, C, D.
Công chức được phân loại theo vị trí công tác gồm có: Công chức lãnh đạo (chỉ huy và điều hành) và công chức chuyên môn nghiệp vụ. Công chức có ba đặc điểm cơ bản: Được tuyển dụng và bổ nhiệm, giữ một công vụ thường xuyên (ổn định và liên tục) trong một công sở nhà nước; được xếp vào một ngạch, thể hiện tính ổn định của công chức; hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Như vậy, công chức là những người được Nhà nước tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên, làm việc liên tục trong cơ quan nhà nước (hoặc cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân hay công an nhân dân), được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. 14 e Công chức ở các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh: Theo Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 quy định những người là công chức.
Trong đó, tại Điều 6 quy định cụ thể công chức trong cơ quan hành chính ở cấp tỉnh, gồm: - Chánh văn phòng, Phó Chánh văn phòng, người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong cơ cấu tổ chức của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và HĐND, Văn phòng UBND; - Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc UBND; người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong các tổ chức không phải là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn thuộc UBND; - Trưởng ban, Phó Trưởng ban, người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong các tổ chức không phải là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc cơ cấu tổ chức của Ban Quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế thuộc UBND. Công chức tại các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh không bao gồm: Trưởng ban, Phó Trưởng ban, người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong các tổ chức không phải là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc cơ cấu tổ chức của Ban Quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế thuộc UBND. Quản lý công chức và quản lý công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh: Quản lý công chức Quản lý công chức có thể được hiểu là quản lý những người hiện đang làm việc thường xuyên, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp, trong biên chế của các cơ quan HCNN từ trung ương đến cơ sở. Hoạt động này gồm nhiều nội dung, từ việc hoạch định tuyển dụng cho đến sử dụng, phát triển, 15 e động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho công chức phát huy năng lực của mình nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra của các cơ quan HCNN.
Quản lý công chức cũng giống như quản lý nguồn nhân lực của tổ chức nhằm tạo ra một nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của tổ chức. Mục tiêu của hoạt động này là nhằm: xây dựng đội ngũ công chức đáp ứng yêu cầu của tổ chức (cơ quan nhà nước) để thực hiện mục tiêu của tổ chức đã đề ra. Thông qua đó, giúp phát triển đội ngũ công chức thích ứng với yêu cầu của từng giai đoạn xây dựng và hoàn thiện nhà nước, cải cách nền hành chính, cải cách chế độ công vụ, công chức và yêu cầu quản lý mọi mặt của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội; tạo cơ hội để công chức phát triển tài năng; bảo đảm việc thực thi công vụ đúng pháp luật nhà nước quy định; xây dựng một môi trường làm việc có văn hóa, có hiệu quả trên cơ sở hợp tác, phối hợp giữa từng CBCC với nhau trong cơ quan, tổ chức. Quản lý công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh: Quản lý công chức tại các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh có thể được hiểu là quản lý những người hiện đang làm việc thường xuyên, được xếp vào một ngạch trong biên chế tại các cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh.
Hoạt động này gồm nhiều nội dung, từ việc hoạch định tuyển dụng cho đến sử dụng, phát triển, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho công chức phát huy năng lực của mình nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra của trung ương và các cơ quan HCNN cấp tỉnh. Quản lý công chức tại các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh có đặc thù, xuất phát từ đặc trưng của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cụ thể: - Các cơ quan chuyên môn được thành lập với tư cách là cơ quan tham mưu của UBND ở từng lĩnh vực, đồng thời được giao thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo ủy quyền của UBND cùng cấp và quy định của pháp luật. 16 e Mặt khác, hoạt động của các cơ quan chuyên môn góp phần đảm bảo sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ Trung ương đến cơ sở.