Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho giáo viên trường trung học cơ sở theo hướng chuẩn hóa. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho giáo viên trường trung học cơ sở Vạn Phúc, huyện Thanh Trì, Hà Nội theo hướng chuẩn hóa. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho giáo viên trường trung học cơ sở Vạn Phúc, huyện Thanh Trì, Hà Nội theo hướng chuẩn hóa. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC NGHỀ NGHIỆP CHO GIÁO VIÊN TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO HƢỚNG CHUẨN HÓA 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Về bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho giáo viên trung học cơ sở theo hướng chuẩn hóa Trong các nhân tố, GV là nhân tố chủ đạo quyết định chất lượng GD & ĐT. Để nâng cao chất lượng giáo dục đồng thời có được ĐNGV theo hướng chuẩn hóa thì công tác đào tạo BDGV có ý nghĩa quyết định. Trong thời gian qua đã có nhiều nhà khoa học, các công trình chuyên khảo, đề tài khoa học của tập thể, cá nhân nghiên cứu vấn đề đào tạo BDGV.
Ở Philippin đã xây dựng kế hoạch tổng thể đào tạo BDGV 10 năm (1998- 2008), trong đó có những giải pháp đáng chú ý. Chẳng hạn, thu hút những HS trung học phổ thông (THPT) có học lực khá giỏi vào ngành sư phạm. Tạo việc làm cho GV mới ra trường, giảm bớt tình trạng thất nghiệp đối với GV trẻ. Thể chế hóa và củng cố việc bồi dưỡng tại chức, nâng cao nhận thức của nhân dân về vai trò, tầm quan trọng của nghề dạy học và vị thế của GV trong xã hội [29].
Ở Hàn Quốc, việc BDGV là một hoạt động rất quan trọng. Mỗi chương trình bồi dưỡng thường kéo dài 182 giờ. Các chương trình bồi dưỡng được thiết kế riêng cho từng đối tượng cho phù hợp với mục đích bồi dưỡng bao gồm: Về soạn thảo chương trình giảng dạy; số hoá thông tin, dữ liệu; nghiệp vụ sư phạm… vv. Những người thực hiện chương trình này sẽ quyết định nội dung và thời gian cho mỗi khoá bồi dưỡng.
Nội dung bồi dưỡng thường chú ý đến tính phổ biến, những phương pháp giảng dạy tiên tiến của các nước trên thế giới [24]. Ở Nhật Bản, GV phổ thông mới vào nghề bắt buộc phải tham gia bồi dưỡng hàng năm còn những GV đang trực tiếp giảng dạy thì được bồi dưỡng bằng nhiều hình thức, ở nhiều cấp học với phương thức đổi mới, đa dạng, phong phú. Nhà trường có các chính sách đãi ngộ GV chủ yếu thể hiện qua lương, phụ cấp, trợ cấp 6 dựa vào thành tích và thâm niên công tác của mỗi người, trung bình 1 năm hoặc 2 năm một lần [25]. Hầu hết các nước trên thế giới đều coi trọng việc BDGV bởi đây là vấn đề cơ bản trong phát triển chất lượng GD&ĐT.
Để phát triển kinh tế xã hội (KT-XH) thì phương châm của các cấp quản lý giáo dục (QLGD) là tạo mọi điều kiện thuận lợi để GV có cơ hội học tập suốt đời, học tập thường xuyên để kịp thời bổ sung kiến thức và đổi mới phương pháp hoạt động phù hợp với xu hướng đổi mới giáo dục hiện nay. Tuỳ thuộc vào điều kiện của từng quốc gia mà hình thức BDGV, xây dựng quy trình phù hợp để từng bước nâng cao chất lượng ĐNGV. Ngay sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng và thống nhất, để đáp ứng yêu cầu của đổi mới giáo dục, Đảng và Nhà nước ta đã có những chỉ đạo về việc đào tạo và bồi dưỡng ĐNGV theo nhiều loại hình khác nhau, đặc biệt là đội ngũ GV THCS như: chính quy, tại chức, ngắn hạn …. theo các hệ khác nhau dẫn đến trình độ của GV THCS không đồng đều.
Trong những năm qua, vấn đề đào tạo BDGV có những chuyển biến tích cực nhằm dần dần chuẩn hoá đội ngũ này. Bên cạnh đó, từ trước đến nay có nhiều nghiên cứu về hoạt động bồi dưỡng được công bố dưới nhiều góc độ, hình thức khác nhau. Sau đây có thể kể đến một số nghiên cứu trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ của các cán bộ QLGD trên các địa bàn khác nhau trong nước: Nguyễn Văn Diệu (2011), trong luận văn thạc sĩ: “Thực trạng công tác bồi dưỡng giáo viên ở các trường trung học cơ sở quận 3, thành phố Hồ Chí Minh”, đã đề cập đến thực trạng công tác BDGV ở các trường THCS quận 3, thành phố Hồ Chí Minh từ đó đưa ra các biện pháp nhằm tăng cường công tác bồi dưỡng giáo viên góp phần nâng cao chất lượng ĐNGV. [18] Tác giả Nguyễn Văn Khung (2011) với đề tài: “Biện pháp bồi dưỡng đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình trong giai đoạn hiện nay”, (Luận văn Thạc sĩ QLGD) đã đưa ra thực trạng và đề xuất các biện pháp bồi dưỡng, phát triển ĐNGV nhằm nâng cao chất lượng GV tại các trường THCS huyện Hưng Hà, Thái Bình.
[30] Tác giả Trần Ngọc Thủy (2013): “Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên trường THCS ở quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng theo hướng chuẩn hóa”, luận văn Thạc sĩ 7 QLGD. Trong luận văn, tác giả nghiên cứu lý luận và thực trạng, đề xuất biện pháp nhằm tăng cường công tác BDGV theo hướng hướng chuẩn hóa góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ GVTHCS quận Lê Chân, Hải Phòng. [51] Một số văn bản của Đảng và Nhà nước về công tác BDGV: - Chiến lược phát triển GD 2001-2010 đã đưa ra các giải pháp phát triển giáo dục, trong đó có giải pháp bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo. [50] - Dự thảo chiến lược phát triển GD 2009-2020 phiên bản 14 đưa ra các giải pháp phát triển giáo dục, trong đó có giải pháp bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo.
[10] - Chỉ thị số 18/2001/CT-TTg của Thủ tướng chính phủ về một số biện pháp cấp bách xây dựng đội ngũ nhà giáo của hệ thống GD quốc dân có đề cập đến công tác bồi dưỡng đội ngũ GV phổ thông. [49] - Chỉ thị số 22/2003/CT-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ GD& ĐT về việc bồi dưỡng nhà giáo và CBQL hàng năm, đã đề ra mục tiêu đối tượng, nội dung phương pháp bồi dưỡng nhà giáo và CBQL. [11] Trong các văn bản pháp quy phạm nói trên, công tác bồi dưỡng NLNN cho GVTHCS theo hướng chuẩn hóa đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc quyết định hiệu quả và chất lượng bồi dưỡng. Các chương trình bồi dưỡng cho GV để nâng cao NLNN được Bộ GD&ĐT thực hiện thường xuyên việc quản lí bồi dưỡng thường xuyên là việc làm thiết thực, quan trọng và cần thiết.
Bộ GD&ĐT đã ban hành thông tư số 26/2012/TT-BGDĐT ngày 10 tháng 7 năm 2012 về quy chế bồi dưỡng thường xuyên cho GV phổ thông [6]. Các tác giả Thái Duy Tuyên và Nguyễn Hồng Sơn chỉ ra rằng: “Để hoạt động bồi dưỡng có hiệu quả cần thiết lập chính sách bồi dưỡng hợp lí nhằm tạo điều kiện khuyến khích giáo viên tự học, nâng cao trình độ, cần có chính sách khen thưởng để để động viên khuyến khích giáo viên tham gia bồi dưỡng” [53] Tác giả Lục Thị Nga cho rằng tự bồi dưỡng là một trong những phương thức quan trọng nhất để nâng cao NLNN của giáo viên và đưa ra 5 nhóm giải pháp cơ bản để quản lí tốt hoạt động tự bồi dưỡng:“Nhóm 1: Đổi mới nhận thức, thái độ của giáo viên về vai trò chủ thể của họ trong hoạt động tự bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm; Nhóm 2: Chuyển giáo viên từ người bị quản lí chuyển thành người tự quản lí 8 hoạt động tự bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm; Nhóm 3: Đa dạng hóa hình thức tổ chức tự bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm của giáo viên; Nhóm 4: Xây dựng điều kiện thuận lợi cho giáo viên tự bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm có hiệu quả; Nhóm 5: Tổ chức cho giáo viên tự giám sát, tự kiểm tra đánh giá hoạt động tự bồi dưỡng, tăng cường giám sát và động viên khen thưởng kịp thời” [36, tr. Về quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho giáo viên trung học cơ sở theo hướng chuẩn hóa Nền giáo dục nước ta hiện nay đã khẳng định công tác bồi dưỡng ĐNGV, đội ngũ CBQL đóng vai trò quyết định chất lượng và hiệu quả giáo dục đồng thời thúc đẩy sự phát triển của đất nước, đảm bảo sự phát triển KTXH của mỗi quốc gia. Nhà giáo dục học người Nga K.
Usinxki khi nói đến vị trí, vai trò của người thầy giáo đã khẳng định "Thầy giáo là người giữ gìn những di huấn thiêng liêng của các bậc tiền bối đã đấu tranh cho chân lí và hạnh phúc và là nhịp cầu nối quá khứ với hiện tại và tương lai". Như vậy, ĐNGV là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục. Muốn nâng cao chất lượng giáo dục thì phải nâng cao NLNN cho GV. Do đó, việc bồi dưỡng NLNN cho ĐNGV có tầm quan trọng hết sức đặc biệt, trong đó việc quản lí hoạt động bồi dưỡng NLNN cho GV của nhà quản lý đóng vai trò quyết định.
Mục đích của hoạt động này nhằm nâng cao chất lượng dạy học theo hướng chuẩn hóa hiện nay. Hiện nay ở Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu về mặt lý luận như: Quản lý và chức năng quản lý; Vai trò của hiệu trưởng trường THCS; Về tiêu chuẩn và các phẩm chất cần có của người quản lý …. Các tác giả của các công trình này đã nhấn mạnh vai trò của quản lý trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục hiện nay. Điển hình trong số đó là: Bùi Minh Hiền, Trần Kiểm, Nguyễn Văn Lê, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo,.
đặc biệt nhấn mạnh về những nguyên tắc chung trong việc quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng như sau: - Giáo viên bộ môn chịu trách nhiệm về chất lượng giảng dạy, giáo dục đối với HS lớp mình phụ trách trước hiệu trưởng và pháp luật. - Mỗi GV chủ nhiệm lớp phải chịu trách nhiệm về thực hiện các nhiệm vụ trong điều lệ trường phổ thông trước hiệu trưởng và pháp luật. - Mỗi GV sẽ được giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để họ hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao của mình. 9 Một số các biện pháp quản lý đã được các tác giả đưa ra: - Tác giả Nguyễn Văn Lê đã đề cập đến các biện pháp phòng ngừa, khắc phục hiện tượng HS học kém, các biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học là bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và giáo dục tư tưởng chính trị cho để xây dựng và phát triển ĐNGV.