Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC LỚP 4 THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC PHÁT HIỆN VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1.1 Dạy học định hướng phát triển năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề cho học sinh Tiểu học 1.1 Các khái niệm cơ bản a) Năng lực Năng lực có nguồn gốc tiếng Latinh: “Competenia” có nghĩa là “gặp gỡ”. Ngày nay, khái niệm về năng lực được hiểu theo nhiều góc độ tiếp cận khác nhau. Theo [11], Nguyễn Công Khanh chỉ ra rằng: “Năng lực là khả năng làm chủ những kiến thức, kĩ năng, thái độ và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lí vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra trong cuộc sống.
Năng lực là một cấu trúc (trừu tượng), có tính mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, kĩ năng, … mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội, … thể hiện ở tính sẵn sàng hành động trong những điều kiện thực tế, hoàn cảnh thay đổi.” Trong chương trình Giáo dục phổ thông 2018 (ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT – BGDDT) cũng xác định “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt được kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.” [2] Con người sinh ra không phải đã có năng lực mà năng lực được hình thành trong cả quá trình hoạt động và giao tiếp. 10 Năng lực được coi là một thuộc tính tâm lý phức tạp, đó là kiến thức, khả năng, hành vi, sự sẵn sàng hành động, trách nhiệm và đạo đức, kinh nghiệm sống của bản thân,. Trong luận văn, chúng tôi sử dụng khái niệm: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành và phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện để đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh nhất định”.
b) Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề Từ điển Tiếng Việt đã giải nghĩa, “phát hiện” là: “tìm thấy cái mà chưa ai biết”. Ở đây, phát hiện không phải là tìm thấy cái mới so với nhân loại mà là cái mới đối với bản thân chủ thể. Phát hiện trong dạy học giải quyết vấn đề có thể hiểu theo nghĩa: “tìm thấy cái mình chưa biết và có nhu cầu muốn biết”. Với nghĩa này, sẽ chỉ rõ vai trò của học sinh trong việc tìm tòi, thảo luận, tranh luận để tìm ra tri thức mới hay nguyên lí mới trên cơ sở đã có.
Vấn đề là những nhiệm vụ được đặt ra có chứa đựng những những thử thách cần vượt qua. Chúng ta có thể hiểu giải quyết vấn đề là một quá trình suy nghĩ và thực hiện hành động không có giải đáp, quy trình đã có sẵn. Khi giải quyết vấn đề người học có thể chưa xác định được mục tiêu và và cách giải quyết ngay lập tức nhưng phải có hiểu biết về vấn đề, nhận ra được mâu thuẫn trong vấn đề, trên cơ sở đó có định hướng để lập kế hoạch và tìm hướng giải quyết để tạo thành quá trình giải quyết vấn đề. Các quốc gia trên thế giới đều hướng tới phát triển năng lực cho học sinh trong đó có năng lực giải quyết vấn đề trong dạy học.
Có thể nói năng lực giải quyết vấn đề rất quan trọng, kích thích năng lực tự học, tự khám phá và tư duy của trẻ. Do vậy, ngay từ bậc tiểu học, cần rèn luyện cho HS biết phát hiện và 11 giải quyết vấn đề đơn giản trong học tập, cuộc sống, xã hội là mục tiêu của giáo dục và đào tạo. Có nhiều phát biểu về năng lực GQVĐ: Đánh giá PISA, 2012 định nghĩa rằng: “Năng lực GQVĐ là khả năng của một cá nhân hiểu và giải quyết tình huống có vấn đề khi mà giải pháp giải quyết chưa rõ ràng. Nội dung Xã hội học tập - học tập suốt đời (2012) của Nguyễn Cảnh Toàn: “Hoạt động trí tuệ được coi là trình độ phức tạp và cao nhất về nhận thức, vì cần huy động tất cả các năng lực trí tuệ của cá nhân.
Để GQVĐ, chủ thể phải huy động trí nhớ, tri giác, lý luận, khái niệm hóa, ngôn ngữ, đồng thời sử dụng cả cảm xúc, động cơ, niềm tin ở năng lực bản thân và khả năng kiểm soát được tình thế”, [22] Ta có thể hiểu năng lực giải quyết vấn đề là quá trình cá nhân tư duy, suy nghĩ về tình huống có vấn đề để tìm ra giải pháp giải quyết vấn đề đó. Trên thực tế có nhiều quan niệm về năng lực giải quyết vấn đề nhưng trong phạm vi luận văn, chúng tôi theo định nghĩa: “Năng lực giải quyết vấn đề là khả năng của mỗi cá nhân sử dụng các quá trình nhận thức, hành động, động cơ,… thường xuyên và hiệu quả thông qua giao tiếp để giải quyết các tình huống không tuân theo quy trình, thủ tục và giải pháp.” Ta thấy, trong học tập cũng như trong thực tiễn, HS sẽ gặp các tình huống/ vấn đề phát sinh cần giải quyết. Khả năng nhận ra mâu thuẫn trong tình huống/ vấn đề và chủ động giải quyết các vấn đề để hình thành tri thức, kĩ năng đó chính xác chính là năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề. Dạy học theo hướng phát hiện và giải quyết vấn đề cần đảm bảo giúp học sinh phát triển các kỹ năng cần thiết, chẳng hạn như: kỹ năng phát hiện vấn đề, kỹ năng trình bày vấn đề, kỹ năng tìm ra phương pháp giải quyết vấn đề hay tổ chức quá trình giải quyết vấn đề, khả năng xác minh kết quả và để dẫn đến giải quyết vấn đề.
12 Có thể thấy bản chất của giáo dục phát hiện và giải quyết vấn đề là đưa học sinh vào những tình huống có vấn đề, tức là những mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết trong hoạt động nhận thức và học tập của các em và nhằm kích thích quá trình học tập, khả năng tìm tòi, khám phá và giải quyết vấn đề của học sinh. Do đó, dạy học theo hướng phát hiện và giải quyết vấn đề là phương pháp dạy học trong đó giáo viên tạo ra tình huống của vấn đề và học sinh được hướng dẫn để phát hiện và giải quyết vấn đề. Bằng cách giải quyết các vấn đề đặt ra, học sinh tiếp thu kiến thức mới một cách chủ động và sáng tạo, đồng thời giúp các em phát triển các kỹ năng và các mục tiêu học tập khác mà các em cần.2 Cấu trúc năng lực GQVĐ cho học sinh tiểu học Cấu trúc năng lực GQVĐ dự kiến phát triển ở học sinh gồm 4 thành tố, mỗi thành tố bao gồm một số hành vi cá nhân khi làm việc độc lập hoặc khi làm việc nhóm trong quá trình GQVĐ. Cụ thể là: - Tìm hiểu, khám phá vấn đề: Nhận biết vấn đề, phân tích được tình huống cụ thể, phát hiện được tình huống có vấn đề, chia sẻ sự am hiểu về vấn đề với người khác.
- Thiết lập không gian vấn đề: Lựa chọn, sắp xếp, tìm hiểu thông tin với kiến thức đã học. Xác định thông tin, biết tìm hiểu các thông tin có liên quan. Từ đó, xác định các cách thức, quy trình và chiến lược giải quyết, thống nhất các hành động. - Lập kế hoạch và thực hiện giải pháp: + Lập kế hoạch: thiết lập tiến trình thực hiện (thu thập dữ liệu, thảo luận, xin ý kiến, giải quyết các mục tiêu…), thời điểm giải quyết từng mục tiêu.
+ Thực hiện kế hoạch: thực hiện và trình bày giải pháp, điều chỉnh kế hoạch để phù hợp với thực tiễn và không gian vấn đề khi có sự thay đổi. 13 - Đánh giá và phản ánh giải pháp: Thực hiện và đánh giá giải pháp GQVĐ. Suy ngẫm về cách thức và tiến trình GQVĐ. Điều chỉnh và vận dụng trong tình huống mới, xác nhận những kiến thức và kinh nghiệm thu được.
Đề xuất các giải pháp cho vấn đề tương tự.3 Quy trình dạy học theo hướng phát triển năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề Dạy học theo hướng phát triển năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề được thực hiện linh hoạt theo 4 bước chính sau: BƯỚC 1. PHÁT HIỆN HOẶC THÂM NHẬP VẤN ĐỀ - Học sinh được đặt vào tình huống có vấn đề. - Phân tích tình huống đã đặt ra để hiểu chính xác tình huống và nhận biết được vấn đề. - Phát biểu vấn đề: Vấn đề cần được nêu rõ ràng và đặt mục đích của việc giải quyết vấn đề đó.
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG KẾ HOẠCH TÌM CÁC PHƯƠNG ÁN GIẢI QUYẾT Kế hoạch tìm cách giải quyết vấn đề, thường được thực hiện theo sơ đồ sau: Dựa vào kiến thức đã học, học sinh phân tích vấn đề,. để giải thích mối quan hệ giữa cái đã biết và cái cần khám phá. Giáo viên có thể gợi ý, hướng dẫn học sinh tìm ra các chiến lược giải quyết vấn đề và thực hiện giải quyết vấn đề. Vốn tri thức cần được huy động.
Sử dụng các thao tác trí óc để điều tra các mối quan hệ. Hướng đề xuất có thể được điều chỉnh khi cần thiết. Giải pháp là kết quả của việc đề xuất và thực hiện cách tiếp cận giải quyết vấn đề. Kiểm tra tính đúng đắn của phương án đã chọn: Nếu giải pháp đưa ra là đúng thì rút ra kết luận, nếu không đúng tiến hành lại từ việc phân tích vấn đế 14 đến khi lựa chọn được phương án đúng.
Khi đã tìm được phương án đúng, có thể áp dụng các phương pháp khác, so sánh để tìm ra cách giải quyết hợp lí nhất. TRÌNH BÀY GIẢI PHÁP - HS trình bày lại toàn bộ quá trình thực hiện từ việc phát biểu vấn đề tới việc đưa ra các giải pháp đúng. NGHIÊN CỨU SÂU GIẢI PHÁP - Nghiên cứu, tìm hiểu những khả năng ứng dụng kết quả - Sử dung các thao tác tư duy như tương tự, khái quát hóa, lật ngược vấn đề…để đề xuất những vấn đề mới có liên quan và giải quyết nếu có thể. Trong qua trình dạy học, quy trình này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, do đó quá trình dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề cũng không nhất thiết phải tuân thủ theo trình tự các bước mà có thể vận dụng linh hoạt cho phù hợp.