CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề Giáo dục luôn giữ một vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển của mỗi quốc gia. Sự phát triển của nền kinh tế tri thức trong xu thế toàn cầu hóa, hàm lượng chất xám “giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống”. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định: “Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” [14, tr.
Trong chiến lược đổi mới và phát triển giáo dục có rất nhiều điều cần làm và phải được tiến hành đồng bộ, song vấn đề hoạt động bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo đã được các cấp, các ngành quan tâm và tổ chức thực hiện. “Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020”, Chính phủ đã chỉ rõ: “đổi mới quản lý giáo dục” coi việc “đào tạo và bồi dưỡng thường xuyên đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục các cấp về kiến thức, kỹ năng quản lý” là khâu then chốt để thực hiện mục tiêu giáo dục. Đứng trước yêu cầu mới mà Đảng và Nhà nước giao phó, giáo dục và đào tạo cần phải đặt ra những yêu cầu mới đối với đội ngũ những người làm giáo dục, đặc biệt là đối với đội ngũ cán bộ quản lý. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ cán bộ quản lý.
Trên cơ sở các quy định về chương trình bồi dưỡng thường xuyên đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng nhằm đạt chuẩn, vượt chuẩn về trình độ chuyên môn 6 và năng lực quản lý nhà trường cho đội ngũ cán bộ quản lý các trường trung học phổ thông (THPT) có những kết quả đáng kể. Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu như: Chương trình khoa học và công nghệ cấp nhà nước “Bồi dưỡng và đào tạo đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới”, mã số KX07-14 (1996), do Nguyễn Minh Đường làm chủ nhiệm đề tài và một số luận văn Thạc sĩ nghiên cứu về quản lý các hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học phổ thông như: Năm 2001, Nguyễn Thị Tươi, trường Đại học Quy Nhơn với bài viết “Về công tác bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên trung học phổ thông”; Luận văn của Bùi Thị Loan với đề tài “Công tác bồi dưỡng giáo viên trung học phổ thông hiện nay” đề cập đến thực trạng chất lượng và điều kiện của công tác đào tạo bồi dưỡng giáo viên hiện nay, có đề xuất các giải pháp là cần quan tâm bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý (CBQL) trường THPT về năng lực đánh giá, phân loại giáo viên. Cần bồi dưỡng cho Hiệu trưởng năng lực thiết kế nội dung, xây dựng chương trình bồi dưỡng giáo viên, huấn luyện cho giáo viên năng lực nhận biết, hiểu đối tượng giáo dục và kỹ năng cơ bản trong sử dụng công nghệ thông tin trong quản lý chuyên môn. Mặc dù có nhiều đề tài đã phân tích và đưa ra rất nhiều giải pháp về nâng cao chất lượng đội ngũ quản lý và quản lý các hoạt động bồi dưỡng giáo viên.
Tuy nhiên cho đến nay vẫn còn ít công trình đi sâu vào nghiên cứu việc quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý các trường THPT. Trong luận văn này chúng tôi kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình đi trước, tiếp tục làm phong phú lý luận quản lý công tác bồi dưỡng, khảo sát thực trạng tìm ra những mặt tiêu cực, hạn chế quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý các trường THPT với việc làm cụ thể gắn với điều kiện thực tiễn trên địa bàn tỉnh Bình Định. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý; Cán bộ quản lý 1.
Quản lý Thuật ngữ quản lý được nhiều nhà nghiên cứu đề cập tới: Theo Frederick Winslow Taylor: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một các tốt nhất và rẻ nhất” [11, tr. Theo tác giả người Pháp Henry Fayol: “Quản lý là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra” [10, tr. Trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” Harold Koontz cho rằng: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất.
Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học” [10, tr. Vũ Hào Quang cho rằng: “Quản lý chính là sự tác động liên tục, có định hướng, có tổ chức, có ý thức hướng mục đích của chủ thể vào đối tượng nhằm đạt được hiệu quả tối ưu so với yêu cầu đặt ra” [23, tr. Đặng Quốc Bảo thì cho rằng: “Công tác quản lý lãnh đạo một tổ chức xét cho cùng là việc thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: quản và lý. Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, gìn giữ, duy trì hệ ở trạng thái ổn định, quá trình “lý” gồm việc sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa vào hệ phát triển” [11, tr.
Từ các quan niệm trên, tuy có nhiều cách hiểu, cách diễn đạt khác nhau, song có thể khái quát: Quản lý là sự tác động liên tục có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể 8 quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) đến khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường, làm cho tổ chức hoạt động có hiệu quả. Cán bộ quản lý Theo từ điển tiếng Việt, cán bộ quản lý (CBQL) là “người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người không có chức vụ. Cán bộ quản lý có thể là cấp trưởng hoặc cấp phó của một tổ chức được cơ quan cấp trên bổ nhiệm bằng quyết định hành chính nhà nước. Cấp phó giúp việc cho cấp trưởng, chịu trách nhiệm trước cấp trưởng và chịu trách nhiệm trước pháp luật về công việc được phân công.
CBQL được phân thành nhiều cấp bậc khác nhau: CBQL cấp Trung ương, địa phương hay cơ sở. Cán bộ quản lý là lực lượng rất quan trọng trong cơ quan, đơn vị. Theo ông Lê Đức Bình, nguyên Phó Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng: “Cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý là lực lượng nòng cốt trong bộ máy tổ chức”. Trong cuốn “ Tìm hiểu một số khái niệm trong Văn kiện đại hội IX của Đảng”: “CBQL là người mà hoạt động nghề nghiệp của họ hoàn toàn hay chủ yếu gắn với việc thực hiện chức năng về quản lý; là người điều hành, hướng dẫn, và tổ chức thực hiện những quyết định của cán bộ lãnh đạo” [12, tr.
Từ đó, có thể khái quát: CBQL là chủ thể quản lý, là người có chức vụ trong tổ chức, được cấp trên ra quyết định bổ nhiệm, là người chỉ huy, giữ vai trò lãnh đạo, dẫn dắt, tác động, ra lệnh, kiểm tra đối tượng quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu của đơn vị. Người quản lý vừa là người lãnh đạo, quản lý của cơ quan, đơn vị, vừa chịu sự chỉ đạo, quản lý của cấp trên. Quản lý giáo dục; Quản lý nhà trường 1. Quản lý giáo dục Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, nó được sinh ra tồn tại và phát triển cùng với xã hội loài người.
Quản lý giáo dục là một bộ phận quan trọng của quản lý xã hội, khái niệm QLGD được hiểu là sự tác động có ý thức chủ thể quản lý đến khách thể quản lý, nhằm đưa vào hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt kết quả mong muốn. Một số tác giả bàn về khái niệm QLGD như: Tác giả M.I Kônđacốp trong cuốn “Cơ sở lý luận của khoa học QLGD” đã nêu: “QLGD là tập hợp các biện pháp tổ chức cán bộ, giáo dục, tài chính. nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng” [18, tr. Phạm Minh Hạc cho rằng: "Việc quản lý nhà trường phổ thông có thể mở rộng ra là việc QLGD nói chung là quản lý hoạt động dạy - học tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần tiến tới mục tiêu giáo dục"[15, tr.
Đặng Quốc Bảo định nghĩa: "QLGD theo nghĩa tổng quan là điều hành, phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển KT-XH. Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục, công tác giáo dục không chỉ hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân" [4, tr. Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang đưa ra định nghĩa quản lý giáo dục như sau: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [22, tr. 10 Từ những khái niệm trên, có thể khái quát: Quản lý giáo dục là sự tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm tổ chức, điều khiển hoạt động của khách thể quản lý thực hiện các mục tiêu giáo dục đã đề ra.
QLGD nói chung đều hướng tới việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực dành cho giáo dục, nhằm đạt được những kết quả cao nhất trong việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ yêu cầu phát triển.