Luận văn Thạc sĩ Giáo dục: qlnn về tài sản là nhà đất trong các đơn vị

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu quản lý nhà nước về tài sản nhà đất tại các đơn vị trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Trường đại học

Học viện Hành chính Quốc gia

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2019

106
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Cơ Sở Lý Luận Quản Lý Nhà Nước Về Tài Sản Là Nhà Đất

Quản lý nhà nước về tài sản là nhà, đất trong các đơn vị sự nghiệp công lập là một vấn đề quan trọng của công tác quản lý công hiện nay. Tài sản công bao gồm nhà, đất là những tài sản quốc phòng thuộc sở hữu nhà nước, được sử dụng để phục vụ các hoạt động giáo dục, đào tạo. Quản lý tài sản công cần tuân thủ các nguyên tắc pháp luật, đảm bảo hiệu quả sử dụng và bảo vệ tài sản công. Vai trò của quản lý tài sản là nhà, đất đối với các đơn vị sự nghiệp trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động giáo dục. Đặc điểm của quản lý tài sản nhà, đất bao gồm tính chất công, tính kế thừa, và yêu cầu quản lý bền vững. Các nhân tố chủ quan như ý thức, kỹ năng nhân viên và các nhân tố khách quan như chính sách pháp luật đều ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý.

1.1. Khái Niệm Và Đặc Điểm Tài Sản Là Nhà Đất

Tài sản là nhà, đất là những tài sản cố định thuộc sở hữu nhà nước, được các đơn vị sự nghiệp sử dụng để thực hiện chức năng công. Tài sản này có tính chất công, không thể chuyển nhượng hoặc bán lại tùy ý. Đặc điểm của tài sản công bao gồm: tính độc quyền, tính bền vững, giá trị lâu dài, và yêu cầu quản lý chặt chẽ. Nhà, đất có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo điều kiện hoạt động cho các trường học, cơ sở giáo dục.

1.2. Vai Trò Và Chức Năng Quản Lý Tài Sản

Quản lý tài sản nhà, đất có chức năng đảm bảo sử dụng hiệu quả, bảo vệ giá trị tài sản, phát triển cơ sở vật chất. Chức năng quản lý bao gồm: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, giám sát, thanh tra kiểm tra. Vai trò của quản lý tài sản là tạo điều kiện tốt nhất để các đơn vị sự nghiệp thực hiện sứ mạng giáo dục. Hiệu quả quản lý tài sản công trực tiếp liên quan đến chất lượng dịch vụ công.

II. Thực Trạng Quản Lý Nhà Nước Về Tài Sản Tại Hà Nội

Thực trạng quản lý nhà nước về tài sản là nhà, đất trong các đơn vị trực thuộc Sở Giáo dục - Đào tạo Hà Nội cho thấy cả những kết quả đạt được lẫn những tồn tại, hạn chế. Trên cơ sở điều tra, khảo sát thực tế, luận văn đã phân tích chi tiết tình hình quản lý tài sản công tại các trường học, cơ sở giáo dục công lập. Hệ thống các đơn vị trực thuộc Sở Giáo dục - Đào tạo Hà Nội quản lý một khối lượng lớn tài sản là nhà, đất với giá trị cao. Tuy nhiên, quản lý tài sản vẫn còn nhiều yếu kém trong khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát. Nguyên nhân bao gồm: thiếu cơ sở dữ liệu, công nghệ thông tin chưa được ứng dụng hiệu quả, và ý thức quản lý chưa đủ cao.

2.1. Kết Quả Đạt Được Trong Quản Lý Tài Sản

Các đơn vị sự nghiệp đã thực hiện tốt công tác quản lý tài sản nhà, đất trong việc bảo quản, sử dụng hợp lý cơ sở vật chất. Quản lý tài sản công đã góp phần duy trì hoạt động giáo dục ổn định. Hầu hết các đơn vị đã thành lập ban quản lý tài sản, lập sổ cái quản lý. Công tác thanh tra, kiểm tra được thực hiện định kỳ để kiểm soát tài sản công.

2.2. Những Hạn Chế Trong Quản Lý Tài Sản

Quản lý tài sản hiện nay còn gặp phải những vấn đề: cơ sở dữ liệu không hoàn chỉnh, thông tin tài sản không chính xác, công nghệ thông tin chưa được ứng dụng rộng rãi. Quản lý nhà nước về biến động tài sản còn lỏng lẻo, tiềm ẩn rủi ro mất mát, thất thoát. Kế hoạch đầu tư tài sản là nhà, đất chưa được lập chi tiết. Công tác phân cấp thẩm quyền chưa rõ ràng.

III. Kinh Nghiệm Quản Lý Tài Sản Tại Các Địa Phương Khác

Luận văn đã nghiên cứu kinh nghiệm quản lý tài sản là nhà, đất tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bắc Ninh để học hỏi, rút ra những bài học bổ ích. Quản lý nhà nước tại các địa phương này đã triển khai một số biện pháp hiệu quả trong công tác quản lý tài sản công. Thành phố Hồ Chí Minh đã xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý tài sản toàn thành phố, ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý tài sản. Tỉnh Bắc Ninh đã phân cấp thẩm quyền quản lý rõ ràng, gắn với trách nhiệm của thủ trưởng đơn vị. Các địa phương cũng đã tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và hỗ trợ tài chính cho quản lý tài sản.

3.1. Kinh Nghiệm Của Thành Phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh đã xây dựng hệ thống quản lý tài sản công tập trung, sử dụng công nghệ thông tin hiệu quả. Quản lý nhà nước tại TPHCM áp dụng phần mềm quản lý tài sản hiện đại, đảm bảo thông tin chính xác, kịp thời. Quản lý tài sản là nhà, đất được thực hiện theo hướng công khai, minh bạch, dễ kiểm soát.

3.2. Kinh Nghiệm Của Tỉnh Bắc Ninh

Tỉnh Bắc Ninh tập trung vào phân cấp quản lý tài sản hợp lý, đảm bảo trách nhiệm của từng cấp. Quản lý nhà nước được thực hiện liên tục, từ lập kế hoạch đến giám sát. Các đơn vị sự nghiệp được trang bị đủ nguồn lực để quản lý tài sản công hiệu quả.

IV. Giải Pháp Hoàn Thiện Quản Lý Tài Sản Tại Hà Nội

Để nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về tài sản là nhà, đất, luận văn đề xuất các giải pháp toàn diện. Trước hết, cần huy động các nguồn lực để phát triển tài sản công, bao gồm ngân sách nhà nước, vay vốn chính thức, và nguồn khác. Thứ hai, rà soát, xây dựng kế hoạch đầu tư tài sản là nhà, đất chi tiết, phù hợp với nhu cầu thực tế của các đơn vị sự nghiệp. Thứ ba, hoàn thiện cơ sở dữ liệu quản lý tài sản công, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin. Thứ tư, phân cấp thẩm quyền quản lý rõ ràng, gắn với trách nhiệm cá nhân thủ trưởng đơn vị. Cuối cùng, kiện toàn bộ máy quản lý, nâng cao chất lượng đội ngũ quản lý tài sản nhà, đất.

4.1. Huy Động Nguồn Lực Phát Triển Tài Sản

Cần tăng cường đầu tư từ ngân sách nhà nước cho quản lý tài sản là nhà, đất trong giáo dục. Khai thác hiệu quả các nguồn lực khác như vay vốn chính thức, hỗ trợ từ cộng đồng. Quản lý nhà nước phải tạo điều kiện thuận lợi để huy động, sử dụng tài chính hợp lý.

4.2. Hoàn Thiện Cơ Sở Dữ Liệu Và Công Nghệ Thông Tin

Xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý tài sản công chính xác, cập nhật thường xuyên, bao gồm thông tin chi tiết về từng tài sản. Ứng dụng phần mềm quản lý tài sản là nhà, đất hiện đại, kết nối với hệ thống giám sát Sở Giáo dục. Quản lý tài sản trở nên minh bạch, dễ kiểm soát.

4.3. Phân Cấp Thẩm Quyền Và Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ

Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cấp trong quản lý nhà nước về tài sản. Gắn trách nhiệm cá nhân với thủ trưởng đơn vị trong quản lý tài sản công. Tổ chức đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ quản lý tài sản là nhà, đất.

13/10/2025
Luận văn thạc sĩ qlnn về tài sản là nhà đất trong các đơn vị trực thuộc sở giáo dục đào tạo hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÀI SẢN LÀ NHÀ, ĐẤT TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Tổng quan về tài sản, quản lý nhà nước về tài sản là nhà, đất trong đơn vị sự nghiệp công lập 1. Khái quát chung 1. Khái quát về tài sản nhà nước Tài sản nhà nước hay TSC được định nghĩa tại Điều 3 Luật Quản lý, sử dụng tài sản công số 15/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội: “Tài sản công là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, bao gồm: tài sản công phục vụ hoạt động quản lý, cung cấp dịch vụ công, bảo đảm quốc phòng, an ninh tại cơ quan, tổ chức, đơn vị; tài sản kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân; tài sản công tại doanh nghiệp; tiền thuộc ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, dự trữ ngoại hối nhà nước; đất đai và các loại tài nguyên khác”.

Bất cứ một quốc gia nào muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào một trong các nguồn lực của mình là tài sản quốc gia. Đó là tất cả những tài sản do các thế hệ, thành viên của quốc gia tạo ra hoặc thu nạp được và các tài sản do thiên nhiên ban tặng cho con người. Trong phạm vi một đất nước, tài sản quốc gia có thể thuộc sở hữu riêng của từng thành viên hoặc nhóm thành viên hoặc là sở hữu chung của tất cả thành viên trong cộng đồng quốc gia; đó là tài sản nhà nước; cũng có quốc gia quan niệm TSC là tài sản thuộc về nhà nước. Tỷ trọng TSC trong tổng số tài sản quốc gia lớn hay nhỏ tuỳ thuộc vào quan hệ sản xuất đặc trưng của các hình thái kinh tế - xã hội ở các giai đoạn lịch sử của mỗi nước.

Ở Pháp, “Tài sản quốc gia được hiểu là toàn bộ tài sản và quyền hạn đối với động sản và bất động sản thuộc về Nhà nước” (Điều L.1 Bộ luật Tài sản 9 nhà nước năm 1998). Ở Việt Nam, Điều 53 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Điều 197 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định tài sản thuộc hình thức sở hữu toàn dân như sau: "Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý". Tiếp đó, tại các Điều 228, 229, 230, 235, 244 và 622 của Bộ luật Dân sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 26 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Điều 124 Luật Thi hành án dân sự năm 2014 đã quy định cụ thể các tài sản khác thuộc sở hữu nhà nước do pháp luật quy định bao gồm: Các tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, vật chứng trong vụ án hình sự bị tịch thu sung quỹ nhà nước; vật bị chôn dấu, chìm đắm được tìm thấy, vật vô chủ, vật không xác định được ai là chủ sở hữu, vật do người khác đánh rơi, bỏ quên được xác lập quyền sở hữu của nhà nước theo quy định của pháp luật, di sản không người thừa kế hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, tài sản do tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước biếu tặng Chính phủ hoặc tổ chức nhà nước.

Theo Giáo trình “Quản lý tài sản công” của Học viện Tài chính do Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội phát hành năm 2007: “Tài sản nhà nước là những tài sản được hình thành từ nguồn ngân sách nhà nước, tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước theo quy định của pháp luật; đất đai, rừng tự nhiên, núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi tự nhiên ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời”. Khái niệm về TSC trên đây ở các nước cũng như ở nước ta đã phản ánh 10 đầy đủ: các TSC đã được thể chế hoá trong Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, đồng thời phản ánh hai mặt cơ bản của TSC. Thứ nhất, tuy mức độ có khác nhau, nhưng mọi chế độ xã hội đều tồn tại TSC là các tài sản thuộc sở hữu của mọi thành viên của quốc gia mà Nhà nước là người đại diện chủ sở hữu. Nhà nước giao TSC cho các tổ chức, cá nhân trực tiếp quản lý, sử dụng; do đó, nhà nước phải tổ chức quản lý việc sử dụng tài sản nhà nước bằng một hệ thống các chính sách, chế độ, công cụ, biện pháp quản lý và có bộ máy quản lý để đảm bảo việc sử dụng tài sản nhà nước tiết kiệm, có hiệu quả, đem lại lợi ích cho toàn dân.

Thứ hai, Khái niệm TSC đã bao hàm đầy đủ các loại tài sản mà ở tất cả các chế độ khác nhau đều có như tài sản có được từ đầu tư xây dựng, mua sắm bằng quỹ tiền tệ tập trung của ngân sách nhà nước, các tài sản khác mà Nhà nước thu nạp được và nguồn tài sản do thiên nhiên ban tặng cho con người. Tài sản là nhà, đất trong đơn vị sự nghiệp công lập Tài sản nhà nước là nhà, đất (trụ sở làm việc) của ĐVSN bao gồm đất đai, nhà, công trình xây dựng, gắn liền với đất thuộc khuôn viên trụ sở làm việc của ĐVSN. Khuôn viên đất được hiểu là tổng diện tích đất do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo quy định của pháp luật về đất đai cho từng ĐVSN. Diện tích làm việc cho cán bộ, công chức là diện tích của các phòng làm việc trong khu vực làm việc được xác định trên cơ sở số lượng cán bộ, công chức, viên chức trong biên chế và hợp đồng làm việc không có thời hạn của đơn vị theo quy định của Nhà nước và tiêu chuẩn định mức cho mỗi chỗ làm việc.

Do công tác tổ chức hành chính nhà nước gồm cấp Trung ương và địa phương, trong cấp địa phương được tổ chức thành 3 cấp gồm (Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương; Cấp quận huyện và cấp xã phường) nên trụ sở ĐVSN 11 công lập cũng được triển khai và quản lý tới mỗi cấp hành chính, công tác này gắn với việc phân cấp và quản lý cho cơ quan quản lý công sản cấp Trung ương và địa phương. Như vậy với sự phân chia tương đối rõ ràng như trên, đồng thời đây chính là tài sản giá trị nhất của ĐVSN công lập, chúng ta xem xét từng bước cách thức quản lý khai thác hiệu quả của ĐVSN công lập gắn với những đặc điểm riêng của khối tài sản này. Quản lý tài sản là nhà, đất trong đơn vị sự nghiệp công lập Đất đai là nguồn tài nguyên và tư liệu sản xuất đặc biệt, là yếu tố căn bản chủ yếu tạo nên của cải và sự giàu có của mọi cá nhân, tổ chức. Nhà cửa gắn liền với đất đai là tài sản có giá trị lớn đối với con người.

Đất đai, nhà cửa không những mang tính kinh tế, tính xã hội mà còn liên quan đến môi trường, kiến trúc, quy hoạch, hạ tầng kỹ thuật, mỹ quan đô thị. Do vậy, quản lý nhà nước về nhà, đất (trụ sở làm việc) cũng là một nội dung của quản lý nhà nước về kinh tế. Khái niệm quản lý nhà, đất: Quản lý nhà, đất là dạng quản lý được sinh ra do nhu cầu khách quan của xã hội có giai cấp, đó cũng chính là thuật ngữ quản lý nhà nước đối với đất đai, nhà cửa. Theo góc độ quản lý nhà nước: Quản lý nhà, đất là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước nhằm đạt được mục tiêu nắm chắc quỹ đất, quỹ nhà và các thông tin gắn với quỹ nhà đất; duy trì, phát triển quỹ nhà đất bền vững và mối quan hệ nhà đất trong trật tự pháp luật.

Theo góc độ công việc chuyên môn: Quản lý nhà đất tại các ĐVSN công lập là toàn bộ các hoạt động nhằm thiết lập và duy trì trạng thái hộ tịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà của ĐVSN công lập đó. Như vậy quản lý nhà, đất là quá trình, Nhà nước với vai trò là chủ thể của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, là chủ thể quản lý dùng các công cụ quản lý 12 tác động có hướng đích lên đối tượng và khách thể quản lý để nhằm thực hiện những mục tiêu chung đề ra. Hệ thống quản lý nhà đất bao gồm: Chủ thể quản lý: là các cơ quan QLNN từ trung ương đến địa phương có chức năng và nhiệm vụ cụ thể trong việc quản lý nhà, đất. Đối tượng quản lý: là tất các tổ chức, đơn vị cá nhân trong xã hội sử dụng đất, sở hữu nhà và hành vi có liên quan tới quá trình sử sử dụng đất và sở hữu nhà, đất.

Khách thể quản lý: là toàn bộ quỹ nhà, quỹ đất với các thông tin không gian gắn với nó trên phạm vi lãnh thổ quản lý. Môi trường quản lý là tổng thể các thể chế quy định về các mối quan hệ nhà đất, cơ chế quản lý nhà đất được pháp luật quy định. Môi trường quản lý được quy định bởi cơ sở hạ tầng của xã hội, chế độ chính trị xã hội và mục đích của giai cấp thống trị. Đặc điểm, vai trò của tài sản là nhà, đất trong đơn vị sự nghiệp công lập 1.

Đặc điểm tài sản là nhà, đất trong đơn vị sự nghiệp công lập Ngoài những đặc điểm chung của tài sản công, tài sản là nhà, đất hay trụ sở làm việc của ĐVSN công lập có những đặc điểm riêng. Đây cũng có thể coi là điểm tạo nên sự khác biệt trong quản lý đất đai tài sản sau này của ĐVSN công lập tại Việt nam. - Đất đai là tài sản sở hữu toàn dân, nhà nước đại diện đứng ra thống nhất quản lý. Trụ sở của ĐVSN công lập có nguồn gốc từ NSNN.

Để hình thành trụ sở làm việc cơ quan, đơn vị không phải nộp tiền sử dụng đất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ