CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DỊCH VỤ HIỆN ĐẠI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng là tổ chức tài chính giữ vị trí, vai trò quan trọng đối với nền kinh tế.
Tùy thuộc vào chức năng, nhiệm vụ của ngân hàng đối với nền kinh tế ở những quốc gia, vùng lãnh thổ mà có những định nghĩa khác nhau. Trong nền kinh tế phát triển năng động như hiện nay, có không ít tổ chức tài chính hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh, môi giới chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm đã mở rộng phạm vi, hướng tới cung cấp các SPDV ngân hàng và cũng có không ít ngân hàng không chỉ phát triển các SPDV đặc thù mà còn mở rộng cung cấp dịch vụ bất động sản, môi giới chứng khoán, hoạt động bảo hiểm… Điều đó khiến cho việc đưa ra khái niệm NHTM là không dễ dàng. Redd và Edward K. Gilt đã dẫn ra khái niệm: “Ngân hàng là tổ chức tài chính nhận tiền gửi chủ yếu ở dưới dạng không kỳ hạn hoặc tiền gửi được rút ra bởi một thông báo ngắn hạn”.
Rose cũng định nghĩa: “Ngân hàng là tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. Rose đặc biệt nhấn mạnh đến sự đa dạng trong các dịch vụ cũng như chức năng của ngân hàng dẫn đến việc chúng được gọi là các “Bách hóa tài chính” và người ta bắt đầu thấy xuất hiện các khẩu hiệu quảng cáo như: Ngân hàng của bạn – một tổ chức tài chính cung cấp đầy đủ dịch vụ (Your Bank – a full service financial Institution). Trong Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 quy định: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 2 ngân hàng”. Luật quy định rõ “hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”.
Từ những định nghĩa trên, ngân hàng luôn được khẳng định là tổ chức tài chính cung ứng các dịch vụ tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán. Cũng theo Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12, có thể căn cứ vào tính chất và mục tiêu hoạt động để phân loại ngân hàng bao gồm: NHTM, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã. Theo đó, “NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Trong Nghị định số 49/2000NĐ-CP ngày 16/7/2009 của Chính phủ cũng định nghĩa: “NHTM là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật”.
Như vậy, NHTM thực chất là một loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng (việc kinh doanh, cung ứng một hoặc một số các nghiệp vụ nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán) và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận. Lĩnh vực kinh doanh đặc thù của NHTM là tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng. Vai trò, chức năng của ngân hàng thương mại Căn cứ trên tính chất, mục tiêu của NHTM, Perter S. Rose (2001) đã đề cập đến những vai trò của NHTM trong nền kinh tế như: Vai trò trung gian: chuyển các khoản tiết kiệm chủ yếu từ hộ gia đình thành các khoản tín dụng cho các tổ chức kinh doanh và các thành phần khác để đầu tư vào nhà cửa, thiết bị và các tài sản khác.
Vai trò thanh toán: thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán cho việc mua hàng hóa và dịch vụ bằng cách phát hành và bù trừ séc, cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và phân phối tiền. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 3 Vai trò người bảo lãnh: cam kết trả nợ cho khách hàng khi khách hàng mất khả năng thanh toán (chẳng hạn phát hành thư tín dụng). Vai trò đại lý: thay mặt khách hàng quản lý và bảo vệ tài sản của họ, phát hành hoặc chuộc lại chứng khoán. Vai trò thực hiện chính sách: thực hiện chính sách kinh tế xã hội của Chính phủ, điều tiết sự tăng trưởng kinh tế và theo đuổi các mục tiêu xã hội.
Với vai trò quan trọng như trên, NHTM có những chức năng cơ bản sau: Thứ nhất: chức năng trung gian tín dụng. NHTM giữ vai trò là cầu nối giữa người có dư vốn và người có nhu cầu vốn. NHTM cùng lúc đảm nhận vai trò kép – vừa là người đi vay, vừa là người cho vay và lợi nhuận NHTM thu được là phần chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay. Như vậy, với vai trò trung gian này, NHTM không chỉ mang lại lợi nhuận cho riêng mình mà còn góp phần tạo lợi ích cho các bên tham qua vào hoạt động tín dụng này.
Thứ hai: chức năng trung gian thanh toán. NHTM đóng vai trò như thủ quỹ cho doanh nghiệp và cá nhân thực hiện chức năng thanh toán thông qua việc trích tiền từ tài khoản của khách hàng. Ngày nay, NHTM ngày càng đẩy mạnh việc cung cấp đa dạng các phương tiện thanh toán tiện lợi nên chức năng trung gian thanh toán càng được đẩy mạnh. Chức năng này mang lại nhiều tiện ích cho khách hàng: tiết kiệm thời gian, chi phí, thanh toán an toàn, không dùng tiền mặt.
Nhờ vậy, chức năng trung gian thanh toán của NHTM góp phần thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán. Thứ ba: chức năng tạo tiền. Lí do tồn tại cũng như mục tiêu của NHTM là tạo ra lợi nhuận, vì thế, chức năng tạo tiền được xem là chức năng cơ bản, thể hiện rõ nhất bản chất của NHTM. Chức năng này không thể được thực hiện nếu NHTM không thực hiện hai chức năng trung gian thanh toán và trung gian tín dụng.
Nói cách khác, chức năng tạo tiền chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở thực thi chức năng trung gian thanh toán và tín dụng. Từ những chức năng trên, tùy thuộc vào cơ chế, chính sách, quy định pháp Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 4 luật của từng quốc gia mà chức năng NHTM có thể có sự khác biệt. Rose (2001) đã đề cập đến các chức năng của ngân hàng qua sơ đồ dưới đây: Sơ đồ 1. Các chức năng của ngân hàng thương mại Ngân hàng Thương Mại (Nguồn: Peter S.
Rose (2001), Quản trị Ngân hàng thương mại, NXB Tài chính) Chín chức năng mà Rose đã chỉ ra trong sơ đồ trên là sự thể hiện cụ thể cho ba nhóm chức năng cơ bản của NHTM như: Nhóm chức năng trung gian tín dụng: được thực hiện bởi các chức năng tiết kiệm, chức năng tín dụng với mục đích huy động nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội sau đó dùng chính nguồn tiền được huy động cho các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức có nhu cầu sử dụng vốn vay và ngân hàng sẽ thu lợi nhuận từ phần chênh lệch lãi suất giữa đi vay và cho vay. Nhóm chức năng trung gian thanh toán: được thực hiện thông qua chức năng thanh toán, chức năng quản lý tiền mặt, chức năng ủy thác… NHTM thực hiện vai trò trung gian thanh toán giữa người mua và người bán thông qua các công cụ thanh toán (séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, hối phiếu…). Nhóm chức năng tạo tiền: được thể hiện ở cả 9 chức năng cơ bản trên bởi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 5 từ nguồn tiền ban đầu thông qua việc thực hiện 9 chức năng trên, NHTM sẽ thu về nguồn tiền lớn hơn từ việc thu phí các dịch vụ thanh toán, dịch vụ môi giới, quản lý tài sản hay sự chênh lệch lãi suất huy động và lãi suất cho vay… 1. Hoạt động của ngân hàng thương mại Căn cứ vào Mục 2, Điều 98 của Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam Khóa XII thông qua ngày 16/6/2010, hoạt động của NHTM được quy định cụ thể như sau: Bảng 1.
Danh mục các hoạt động của ngân hàng thương mại Mục 2. HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Điều 98. Hoạt động ngân hàng của ngân hàng thương mại 1. Nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác.
Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong nước và nước ngoài. Cấp tín dụng dưới các hình thức sau đây: a) Cho vay; b) Chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác; c) Bảo lãnh ngân hàng; d) Phát hành thẻ tín dụng; đ) Bao thanh toán trong nước; bao thanh toán quốc tế đối với các ngân hàng được phép thực hiện thanh toán quốc tế; e) Các hình thức cấp tín dụng khác được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận. Mở tài khoản thanh toán cho khách hàng. Cung ứng các phương tiện thanh toán.
Cung ứng các dịch vụ thanh toán sau đây: a) Thực hiện dịch vụ thanh toán trong nước gồm séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 6 nhờ thu, ủy nhiệm thu, thư tín dụng, thẻ ngân hàng, dịch vụ thu hộ, chi hộ; b) Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế và các dịch vụ thanh toán khác sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận. Sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại 1. Khái niệm sản phẩm dịch vụ ngân hàng NHTM là một tổ chức tài chính thực hiện toàn bộ hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. Tuy nhiên, “dịch vụ ngân hàng là gì” lại là một vấn đề chưa được đề cập đến một cách tường minh ngay cả trong Luật các Tổ chức tín dụng hay Luật Ngân hàng Nhà nước.