CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG SỐ CỦA NGÂN HÀNG TMCP TIÊN PHONG 1. CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN NGÂN Hr NG SỐ Theo nghiên cứu mới nhất “Ngân hàng số - Hướng đi bền vững cho các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0” của Nguyễn Thị Như Quỳnh - Lê Đình Luân (2021) thì ngân hàng số (Digital banking) là việc nâng cao tiêu chuẩn của các dịch vụ ngân hàng trực tuyến và ngân hàng di động bằng cách tích hợp các công nghệ số như các công cụ phân tích, tương tác qua mạng xã hội, các giải pháp thanh toán đổi mới, công nghệ di động và tập trung vào trải nghiệm của người sử dụng. Theo Sharma (2017), ngân hàng số về cơ bản phải tận dụng được các công nghệ để cung cấp các sản phẩm ngân hàng. Một số người cho rằng, ngân hàng số có nghĩa là một nền tảng ngân hàng trực tuyến hoặc di động nhưng kỹ thuật phải vượt xa hơn thế.
Theo Khoản 6 Điều 1 Thông tư 16/2020/TT-NHNN (Có hiệu lực từ 05/03/2021) quy định về việc mở tài khoản thanh toán của cá nhân bằng phương thức điện tử, cụ thể: 1. Ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện mở tài khoản thanh toán bằng phương thức điện tử phải xây dựng, ban hành, công khai quy trình, thủ tục mở tài khoản thanh toán bằng phương thức điện tử phù hợp với quy định tại Điều này, pháp luật về phòng, chống rửa tiền, pháp luật về giao dịch điện tử, các quy định pháp luật liên quan về đảm bảo an toàn, bảo mật thông tin khách hàng và an toàn hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài 2. Ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được quyết định biện pháp, hình thức, công nghệ để nhận biết và xác minh khách hàng phục vụ việc mở tài khoản thanh toán bằng phương thức điện tử; chịu trách nhiệm về rủi ro phát sinh (nếu có 3. Ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài căn cứ điều kiện công nghệ để đánh giá rủi ro, xác định phạm vi sử dụng và quyết định áp dụng hạn mức giao dịch qua tài khoản thanh toán của khách hàng mở bằng phương thức điện tử nhưng phải đảm bảo tổng hạn mức giá trị giao dịch (ghi Nợ) qua các tài khoản thanh toán của khách hàng đó không vượt quá 100 triệu đồng/tháng/khách hàng.
Ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được quyết định áp dụng hạn mức giao dịch qua tài khoản thanh toán mở bằng phương thức điện tử cao hơn hạn mức quy định tại khoản 3 Điều này 0 0 Theo Điều 3 Thông tư 35/2016/TT-NHNN: Nguyên tắc chung về đảm bảo an toàn, bảo mật hệ thống công nghệ thông tin cho việc cung cấp dịch vụ Internet Banking. Hệ thống Internet Banking là hệ thống thông tin quan trọng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước về an toàn hệ thống thông tin trong hoạt động ngân hàng. Đảm bảo tính bí mật, tính toàn vẹn của thông tin khách hàng; đảm bảo tính sẵn sàng của hệ thống Internet Banking để cung cấp dịch vụ một cách liên tục. Các thông tin giao dịch của khách hàng được đánh giá mức độ rủi ro theo từng nhóm khách hàng, loại giao dịch, hạn mức giao dịch và trên cơ sở đó cung cấp biện pháp xác thực giao dịch phù hợp cho khách hàng lựa chọn.
Biện pháp xác thực giao dịch phải đáp ứng: a) Áp dụng tối thiểu biện pháp xác thực đa thành tố khi thay đổi thông tin định danh khách hàng; b) Áp dụng các biện pháp xác thực cho từng nhóm khách hàng, loại giao dịch, hạn mức giao dịch theo quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trong từng thời kỳ; c) Đối với giao dịch gồm nhiều bước, phải áp dụng tối thiểu biện pháp xác thực tại bước phê duyệt cuối cùng. Thực hiện kiểm tra, đánh giá an ninh, bảo mật hệ thống Internet Banking theo định kỳ hàng năm. Thường xuyên nhận dạng rủi ro, nguy cơ gây ra rủi ro và xác định nguyên nhân gây ra rủi ro, kịp thời có biện pháp phòng ngừa, kiểm soát và xử lý rủi ro trong cung cấp dịch vụ ngân hàng trên Internet. Các trang thiết bị hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin cung cấp dịch vụ Internet Banking phải có bản quyền, nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.
Với các trang thiết bị sắp hết vòng đời sản phẩm và sẽ không được nhà sản xuất tiếp tục hỗ trợ, đơn vị phải có kế hoạch nâng cấp, thay thế theo thông báo của nhà sản xuất, bảo đảm các trang thiết bị hạ tầng có khả năng cài đặt phiên bản phần mềm mới. Các yếu tố thường được sử dụng để đánh giá thực trạng của ngân hàng số như: Độ bảo mật, dễ dùng, an toàn, Hoạt động 24/7 tất cả các hay không, có thể hỗ trợ tất cả các giao dịch ngân hàng cơ bản hay không,… 0 0 1. CÁC TrI LIỆU TRƯỚC ĐÂY VỀ NGÂN HrNG SỐ Đề tài nghiên cứu “Đánh giá thực trạng về hoạt động dịch vụ internet banking của Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam” của Nguyễn Thị Búp và Nguyễn Thị Bé Hồng (2021) chỉ ra rằng sản phẩm dịch vụ mang công nghệ hiện đại như internet banking thì vai trò thỏa mãn KH càng có ý nghĩa quan trọng xuất phát từ tính tương tác giữa KH và NH. Nếu NH đem đến cho KH sự hài lòng cao, thì KH sẽ tiếp tục sử dụng dịch vụ, ủng hộ các dịch vụ mới của NH, giới thiệu NH với người khác, từ đó góp phần tăng doanh số, lợi nhuận và giá trị NH trên thị trường cũng được nâng cao.
Đây chính là mục tiêu mà bất cứ NH nào cũng muốn đạt được. Nghiên cứu về “Phát triển Dịch vụ Ngân hàng điện tử tại Ngân hàng BIDV” của Phạm Đồng Chí Thịnh (2019) nghiên cứu đã khắc hoa bức tranh toàn cảnh về hoạt động cung ứng Dịch vụ Ngân hàng điện từ tại Ngân hàng BIDV. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra những vấn đề còn tồn tại như danh mục các sản phẩm dịch vụ chưa phong phú, chất lượng DVNHĐT còn chưa thỏa mãn khách hàng ở những cấp độ cao hơn Qua đó, một số giải pháp như tăng tiện ích cho Dịch vụ Ngân hàng điện tử - Tăng cường cải tiến trang thiết bị, đảm bảo hệ thống đường truyền ổn định được tác giả đưa ra để nâng cao hiệu quả dịch vụ Ngân hàng điện tử tại Ngân hàng BIDV. Tương tự, nghiên cứu của Phạm Thế Hùng, Trần Thị Lan Hương, Vũ Thị Tuyết Nhung (2021) đã tập trung vào vấn đề Thực trạng và giải pháp phát triển ngân hàng số ở Việt Nam.
Nghiên cứu cho thấy bên cạnh những thuận lợi thì hoạt động phát triển ngân hàng số ở Việt Nam vẫn còn gặp không ít khó khăn, thách thức như: khuôn khổ pháp lý, tạo cơ sở cho hoạt động và phát triển ngân hàng số vẫn còn thiếu, các trường hợp gian lận liên quan tới các hoạt động thanh toán số gần đây đang diễn biến ngày càng tinh vi và phức tạp, nhận thức của người dùng khi chưa ý thức về các rủi ro trong giao dịch ngân hàng trực tuyến, coi nhẹ bảo mật thông tin cá nhân,… Tương tự, Lưu Thanh Thảo (2021) đã nghiên cứu về vấn đề Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại ngân hàng TMCP ACB đã nếu lên một số vấn đề tương tự như: Tỷ lệ khách hàng ACB có sử dụng Radio và Internet còn thấp, gây khó khăn trong việc quảng bá hình ảnh, sản phẩm dịch vụ Ngân hàng qua kênh này. Do thói quen dùng tiền mặt chưa thay đổi, món hàng trị giá hàng trăm triệu, hàng tỷ đồng vẫn được thanh toán bằng tiền mặt và không bị kiểm soát nên Ngân hàng điện tử rất khó phát triển, mặt bằng dân trí tại 0 0 Việt Nam chưa đồng đều giữa các vùng nông thôn và thành thị nên hiện nay Ngân hàng 0 0 điện tử chỉ phát triển mạnh ở Thành phố Hồ Chí Minh và còn hạn chế ở các khu vực ngoài thành phố. Trong đó, nghiên cứu sử dụng Phương pháp thu thập số liệu nhằm từ đó làm cơ sở cho ngân hàng từng bước hoàn thiện chất lượng hoạt động dịch vụ, cũng như nâng cao sự hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm dịch vụ này. Kết luận trong nghiên cứu đã khẳng định Trong lĩnh vực dịch vụ đặc biệt là sản phẩm dịch vụ mang công nghệ hiện đại như internet banking thì vai trò thỏa mãn khách hàng càng có ý nghĩa quan trọng xuất phát từ tính tương tác giữa khách hàng và NH.
Nếu NH đem đến cho khách hàng sự hài lòng cao, thì khách hàng sẽ tiếp tục sử dụng dịch vụ, ủng hộ các dịch vụ mới của NH, giới thiệu NH với người khác, từ đó góp phần tăng doanh số, lợi nhuận và giá trị NH trên thị trường cũng được nâng cao. Đây chính là mục tiêu mà bất cứ NH nào cũng muốn đạt được.Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu vẫn tồn tại những hạn chế như vẫn chưa đưa ra những đề xuất hay giải pháp cho đề tài nghiên cứu chỉ phân tích và đánh giá vấn đề. Ngược lại, với đề tài trên thì bài nghiên cứu “ Ngân hàng số - Hướng đi bền vững cho các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0’’Nguyễn Thị Như Quỳnh và Lê Đình Luân (2021) đã chỉ ra thực trạng các NHTM đang bắt đầu thay đổi mô hình tổ chức để phục vụ cho việc phát triển ngân hàng số. Hiện nay, hầu hết các ngân hàng ở Việt Nam đang bắt đầu triển khai ngân hàng số ở cấp độ quy trình và kênh giao tiếp, chỉ một số ít ngân hàng chuyển đối số hóa ở nền tảng dữ liệu.
Các NHTM đang thực hiện mô hình hợp tác với doanh nghiệp công nghệ trong lĩnh vực tài chính (Fintech) hay các công ty công nghệ lớn. Đồng thời đã đánh giá và đưa ra các giải pháp kiến nghị cho đề tài như với chính phủ và NHNN: Cần sớm ban hành khuôn khổ pháp lý. Đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng, cũng như xây dựng các nền tảng dữ liệu, liên quan đến công nghệ số. Với các NHTM Việt Nam: Các NHTM cần xây dựng đề án, chiến lược và lộ trình chuyển đổi từ ngân hàng truyền thống sang ngân hàng số.