CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH Y TẾ 1. Nhân lực và nguồn nhân lực 1. Khái niệm nhân lực Nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự thành công hay không thành công trong phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, do vậy phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao luôn là mối quan tâm hàng đầu của tất cả các nước trên thế giới. Khái niệm về nguồn nhân lực Hiện nay, có khá nhiều cách tiếp cận cũng như cách hiểu khác nhau về nguồn nhân lực: “Nguồn nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động.
Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động - con người có sức lao động” [9]. Quan niệm này xem nhân lực là yếu tố nội tại, tồn tại trong bản thân mỗi con người, không phụ thuộc nhiều vào các yếu tố môi trường bên ngoài xã hội. “Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động), gồm: thể lực, trí lực, nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc một cơ cấu kinh tế - xã hội nhất định” [12]. Theo cách hiểu này thì nguồn nhân lực cũng là yếu tố nội tại trong con người nhưng được đặt trong mối quan hệ với chủ thể khác là tổ chức hay cơ cấu kinh tế - xã hội.
“Với tư cách là sự phát triển của kinh tế xã hội, nguồn nhân lực có thể hiểu là sự tổng hợp từ các cá nhân tham gia vào lao động. Đó là tổng thể các yếu tố bao gồm thể chất và tinh thần được người lao động, DN huy động vào quá trình sản xuất kinh doanh. Với cách hiểu này nguồn nhân lực chính là những người trong độ tuổi lao động” [12]. 7 Có thể hiểu: “Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của sức lao động của con người và khả năng huy động sức mạnh đó tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội ở hiện tại cũng như trong tương lai.
Sức mạnh và khả năng đó được biểu hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu lao động, quan trọng hơn cả là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào quá trình sản xuất chung của xã hội”. Phân loại nguồn nhân lực: [14] Thứ nhất, căn cứ theo nguồn gốc hình thành thì NNL được chia thành: - NNL có sẵn trong dân số là toàn bộ những người nằm trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, không kể đến trạng thái có làm việc hay không làm việc. - NNL tham gia vào hoạt động kinh tế hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế. Đây là toàn bộ những người đang có việc làm, đang hoạt động trong các ngành kinh tế và văn hóa của xã hội.
- Như vậy, giữa NNL sẵn có trong dân số và NNL tham gia hoạt động kinh tế có sự khác nhau. Sự khác nhau này do có một bộ phận người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng vì nhiều nguyên nhân khác nhau nên chưa tham gia vào hoạt động kinh tế, chẳng hạn như thất nghiệp, có việc làm nhưng không muốn làm việc, còn đang học tập, có nguồn thu nhập khác không cần đi làm. - NNL dự trữ trong nền kinh tế bao gồm những người nằm trong độ tuổi lao động, nhưng vì lý do khác nhau họ chưa có việc làm ngoài xã hội như người làm công việc nội trợ trong gia đình , những người tốt nghiệp ở các trường phổ thông và các trường chuyên nghiệp, những người trong độ tuổi lao động nhưng trong tình trạng thất nghiệp. 8 - Thứ hai, căn cứ vào vai trò của từng bộ phận NNL tham gia vào nền sản xuất - NLĐ chính là bộ phận NNL nằm trong độ tuổi lao động và có khả năng lao động.
Đây là bộ phận quan trọng nhất. - NLĐ phụ là bộ phận dân cư nằm ngoài độ tuổi lao động có thể và cần tham gia vào nền sản xuất xã hội đặc biệt ở các nước kém phát triển. Ở nước ta quy định số người dưới tuổi lao động thiếu từ 1-3 tuổi và trên tuổi lao động vượt từ 1-5 tuổi thực tế có tham gia lao động được quy ra lao động chính với hệ số quy đổi là 1/3 và ½ ứng với người dưới và người trên. - NLĐ bổ sung: là bộ phận NNL được bổ sung từ các nguồn khác như số người hết hạn nghĩa vụ quân sự, số người trong độ tuổi lao động thôi họ ra trường, số người lao động ở nước ngoài trở về.
- Thứ ba, căn cứ vào trạng thái có việc làm hay không có việc làm thì NNL được phân chia thành: - LLLĐ là bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và những người thất nghiệp song đang có nhu cầu tìm việc làm. - NLĐ là bao gồm những người thuộc LLLĐ và những người thất nghiệp song không có nhu cầu tìm việc làm. Nói tóm lại, tùy theo giác ngộ nghiên cứu mà người ta phân chia nguồn nhân lực theo các tiêu thức khác nhau. Các nguồn lực cơ bản của sự phát triển quốc gia thường có là: nguồn lực tài chính, nguồn lực con người và nguồn lực vật chất, trong đó nguồn nhân lực có vai trò quyết định.
Là "lao động sống", nó làm cho các nguồn lực khác trở lên hữu dụng. 9 Nguồn nhân lực sẵn có trong dân cư Nguồn nhân lực dự Nguồn nhân lực tham gia trữ hoạt động kinh tế Đang Nội trợ Chưa Lao động Lực làm Đi học có nhu đang làm lượng nghĩa cầu việc trong lao động vụ làm các ngành đang thất quân việc kinh tế nghiệp sự quốc dân Sơ đồ 1.1: Hệ thống phân loại nguồn nhân lực[15] 1. Nguồn nhân lực ngành y tế Nhân lực y tế (NLYT) bao gồm “ tất cả mọi người tham gia vào các hoạt động chăm sóc và nâng cao sức khỏe”[15], là trung tâm của mỗi hệ thống y tế, bao gồm: a) Những người trực tiếp cung cấp dịch vụ b) Những người làm các công việc khác ví dụ quản lý, phục vụ… Ví dụ, trong bệnh viện, NLYT bao gồm: - Bác sỹ: bác sỹ đa khoa, bác sỹ chuyên khoa như ngoại, sản, TMH, RHM … - Dược sỹ: đại học, trung học. - Điều dưỡng và nữ hộ sinh: đại học, cao đẳng, trung học - Kỹ thuật viên: đại học, trung học Cử nhân: YTCC, kinh tế, luật.
- Thợ điện, thợ nước…v…v… 10 c) Người làm việc trong và ngoài ngành y tế (như quân đội, trường học hay các doanh nghiệp), bao gồm: - Cán bộ thuộc biên chế và hợp đồng đang làm trong hệ thống y tế công lập. - Các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y/dược - Tất cả những người khác đang tham gia vào các hoạt động quản lý và cung cấp dịch vụ CSSK (y tế tư nhân, các cộng tác viên y tế, lương y và bà đỡ/mụ vườn…) 1. Tính chất đặc thù của nhân lực y tế:[6] Nghị quyết số 20/NQ-TW, ngày 25/10/2017, của Ban Chấp hành Trung Ương khóa XII đã nêu rõ nguyên tắc chỉ đạo nguồn nhân lực y tế, cụ thể là “Nghề y là một nghề đặc biệt. Nhân lực y tế phải đáp ứng yêu cầu chuyên môn và y đức; cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt”.
Để đổi mới quản lý nhà nước về nguồn nhân lực y tế, cần có nhận thức đúng về tính đặc thù của nguồn nhân lực y tế. Cụ thể như sau: a) Hoạt động của ngành y tế liên quan trực tiếp đến sức khỏe nhân dân, tính mạng người bệnh và đòi hỏi nhiều lao động. Nguồn nhân lực trong ngành y tế có vai trò quan trọng vì liên quan trực tiếp đến tính mạng người bệnh, sức khỏe của nhân dân, chất lượng cuộc sống, chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước. Việc cung ứng các dịch vụ y tế theo từng người bệnh về bản chất đòi hỏi sử dụng nhiều lao động.
Trong cung ứng mỗi dịch vụ y tế, ít nhất cần có sự tiếp xúc riêng trực tiếp giữa NVYT và người bệnh. Trong những ca phức tạp có thể cần tới cả một kíp (tập thể) NVYT với các thành phần khác nhau dành riêng cho việc chăm sóc cho một người bệnh. Thậm chí có những ca đơn giản nhưng vẫn cần hàng loạt các dịch vụ kỹ thuật, chuyên môn khác nhau phối hợp chăm sóc cho một người bệnh. Vì vậy, bản chất của việc cung ứng dịch vụ y tế đòi hỏi một lực lượng nhân lực đủ lớn, và bất chấp nguồn chi trả, tỷ lệ tương đối lớn ngân sách CSSK cần được dành cho nhân lực y tế.
Việc 11 đầu tư cho nguồn nhân lực y tế rất có ý nghĩa về mặt kinh tế và xã hội, và cũng như việc đầu tư vào lĩnh vực khác, khi đầu tư vào nhân lực y tế cần bảo đảm rằng nguồn lực này được sử dụng hợp lý và tránh lãng phí. Nhân lực trong ngành y tế thường phải làm việc với cường độ lớn (đôi khi liên tục 24/24 giờ; nhất là ở các bệnh viện quá tải); môi trường làm việc độc hại (dịch bệnh, truyền nhiễm, phóng xạ,…) Chính vì thế họ cần được đãi ngộ đặc biệt. b)Giáo dục và đào tạo nhân lực y tế cần sự đầu tư lớn, sự phối hợp chặt chẽ và có kế hoạch Vì quy mô nhân lực y tế rất lớn, khoản đầu tư vào các cơ sở đào tạo nhân lực y tế cũng phải rất lớn để duy trì quy mô và đáp ứng nhu cầu gia tăng theo dân số. Thêm vào vấn đề quy mô đội ngũ nhân lực rất lớn, việc đào tạo CBYT, và đặc biệt là đội ngũ bác sỹ, cần một khoảng thời gian rất dài với sự kiểm tra giám sát chặt chẽ và rất tốn kém.
Ví dụ như một bác sỹ phải qua 6 năm đào tạo trên giảng đường đại học mới có được kiến thức cơ bản và phải mất vài năm dưới sự kèm cặp của các bác sỹ kinh nghiệm khác trong các cơ sở y tế mới có đủ năng lực để hành nghề có hiệu quả. Với một số chuyên ngành/chuyên khoa thì thời gian đào tạo và thực hành thậm chí còn lâu hơn. Các cơ sở đào tạo và giáo viên cần tính đến không chỉ nhu cầu CSSK, phòng bệnh hiện nay, mà còn phải tính đến xu hướng nhu cầu trong tương lai.