Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 1. Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững 1. Trang trại và kinh tế trang trại Từ rất lâu KTTT đã ra đời và từng bước phát triển, theo đó các chuyên gia về sử học và kinh tế học trên thế giới đã chứng minh được các TT đã được hình thành từ thời đế quốc La Mã, trong TT thời đó lực lượng thực hiện các hoạt động sản xuất chủ yếu là các nô lệ. Ở Trung Quốc TT đã có từ đời nhà Đường.
Qua các thời kỳ cho đến khi chế độ tư bản chủ nghĩa ra đời thì TT trên thế giới bắt đầu phát triển mạnh [25]. TT ở nước ta đã xuất hiện nhiều trong nhiều thế kỷ, trong từng thời kỳ lịch sử phát triển của đất nước, các TT cũng có các đặc điểm và các bước phát triển khác nhau. Chỉ đến khi Nghị Quyết số 10 (1988) của Bộ chính trị được ban hành và đi vào thực hiện thì TT mới thực sự phát triển và đã đạt được những kết quả nhất định, bên cạnh đó Đảng và Nhà nước cũng đã ban hành nhiều chính sách, Nghị quyết, Luật Đất đai, Luật dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư và các Nghị định nhằm tạo ra cơ chế cụ thể đối với loại hình kinh tế tư nhân trong nông nghiệp, Trải qua nhiều năm cho đến năm 2000 Chính phủ đã ban hành và đưa vào thực hiện nghị quyết 03/2000/NQ - CP ngày 02/02/2000 về KTTT, nghị quyết đã nhấn mạnh rõ chủ trương của Chính phủ trong việc duy trì và phát triển KTTT, bên cạnh đó cũng tạo một hành lang pháp lý phù hợp cho loại hình KTTT phát huy năng lực SXKD của mình thông qua những chính sách ưu đãi, khuyến khích về nhiều mặt đối với loại hình kinh tế này. KTTT khắc phục được tình trạng sản xuất nhỏ lẻ manh mún, sản xuất theo phong trào dẫn đến dư cung sản phẩm, khó kiểm soát dịch bệnh, thiếu minh bạch trong quá trình sản xuất và chất lượng sản phẩm.
Mặt khác, Chính phủ cũng xây dựng, hình thành hệ thống các tiêu chí KTTT nhằm tạo điều kiện thuận lợi hỗ trợ trong công tác quản lý và không ngừng khuyến khích duy trì, phát triển KTTT trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Hệ thống các tiêu chí đó được thực hiện lần lượt theo các thông tư sau: Thông tư Liên tịch số 69/2000/TTLT-BNN-TCTK ngày 23/6/2000 của Bộ NN&PTNT và Tổng cục Thống kê hướng dẫn tiêu chí để xác định KTTT; Thông tư Số 74/2003/TT-BNN, ngày 04 tháng 07 năm 2003 của Bộ NN&PTNT sửa đổi, bổ sung Mục III của Thông tư liên tịch 69/2000/TTLT/BNN- TCTK và hiện tiêu chí TT đang thực hiện theo Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT ngày 13 tháng 4 năm 2011 của Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn. Khái niệm trang trại và kinh tế trang trại a. Khái niệm trang trại Để khái quát được loại hình TT, các nước trên thế giới đều có ngôn từ dùng để biểu đạt các hình thức tổ chức sản xuất tập trung (Farm, Farmstead, Farm house (Anh); Farme (Pháp); Oepma…) khi chuyển sang tiếng Việt dịch là TT hay nông trại (Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên (2018-2020).
- Theo PGS-TS Lê Trọng: “TT là cơ sở, là doanh nghiệp kinh doanh trong ngành nông nghiệp của một hoặc một số nhóm nhà kinh doanh” (Lê Trọng, 2000). Qua đó “TT” là thuật ngữ được dùng để mô tả, gọi tên và gắn liền với hình thức SXNN tập trung sử dụng trên một diện tích đủ lớn và với quy mô hộ gia đình là chủ yếu, trong điều kiện sản xuất hàng hóa của nền kinh tế thị trường. - Theo Trần Đức (1995) đã cho rằng: “TT là yếu tố chủ lực của tổ chức làm nông nghiệp ở các nước tư bản trên cũng như của các nước đang phát triển và theo các chuyên gia, các nhà khoa học đã khẳng định đó là tổ chức SXKD của nhiều nước trên thế giới trong thế kỷ 21” (Trần Đức, 1995). - Còn theo tác giả Phạm Minh Đức (1997): “TT là một loại hình SXNN hàng hóa của hộ nông dân, do một người chủ hộ có năng lực, khả năng tìm ra, đón nhận những cơ hội thuận lợi, từ đó có những kế hoạch huy động thêm vốn, lực lượng lao động, trang bị tư liệu sản xuất, lựa chọn khoa học công nghệ sản xuất thích hợp, tiến hành tổ chức sản xuất và kinh doanh dịch vụ những sản phẩm theo nhu cầu thị trường nhằm thu lợi nhuận cao” (Phạm Minh Đức, 1997).
- Nguyễn Phượng Vỹ (1999): “TT là một hình thức tổ chức kinh tế nông-lâm- ngư nghiệp, phổ biến được hình thành trên cơ sở kinh tế hộ, nhưng mang tính sản xuất hàng hóa” (Nguyễn Phượng Vỹ, 1999). Tất cả các quan khái niệm trên đều đã xem xét và đặt TT trong nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng nhìn chung các khái niệm đều thống nhất như sau: “TT là loại hình cơ sở SXKD nông-lâm-ngư nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa của các hộ gia đình nông dân, hình thành và phát triển chủ yếu trong điều kiện kinh tế thị trường với quy mô lớn”. Theo đó khi nói đến sự phát triển TT và phát triển kinh tế TT được hiểu theo một nghĩa đồng nhất. Nhưng thực tế nói đến TT là nói đến loại hình thức tổ chức sản xuất, còn khi nói đến KTTT là nhấn mạnh đến loại hình kinh tế.
Khái niệm kinh tế trang trại - Theo Lê Trọng (2000): “KTTT là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở, là doanh nghiệp trực tiếp tổ chức các hoạt động sản xuất ra các loại nông sản hàng hóa dựa m 6 trên yếu tố hợp tác và phân công lao động xã hội, được chủ các TT xây dựng các kế hoạch đầu tư vốn, thuê mướn phần lớn hoặc hầu hết sức lao động và trang bị các tư liệu sản xuất để thực hiện các hoạt động kinh doanh theo yêu cầu của nền kinh tế thị trường, được Nhà nước bảo hộ theo luật định”. - Theo Nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ về KTTT: “KTTT là một trong những hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nền nông nghiệp nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình nhằm mục đích mở rộng quy mô và không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thủy sản. Có quy mô đất đai, vốn, lao động, thu nhập có phần cao hơn so với mức trung bình của kinh tế hộ gia đình tại địa phương, tương ứng với từng ngành nghề cụ thể”. Trên cơ sở từ các khái niệm và quan điểm của một số tác giả đã trình bày ở trên theo tôi, chúng ta có thể hiểu về KTTT như sau: “KTTT là một trong những hình thức chủ yếu tổ chức kinh tế SXKD hàng hóa về nông - lâm - ngư nghiệp được hình thành trên cơ sở kinh tế hộ, bên cạnh đó có sự tập trung cao về các yếu tố phục vụ trong các hoạt động sản xuất, có nhu cầu lớn hơn về thị trường và các yếu tố khoa học công nghệ, có các giá trị sản phẩm hàng hóa và thu nhập thu được cao hơn so với mức bình quân của hộ gia đình trong vùng.
Cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao”. Vai trò của kinh tế trang trại Việc chú trọng phát triển KTTT ở nhiều nước trên thế giới và nước ta trong nhiều năm qua đã phần nào cho thấy vai trò quan trọng của KTTT góp phần quan trọng trong phát triển nền kinh tế nói chung và quá trình hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nói riêng. Phát triển KTTT là yếu tố tất yếu, quá trình đó phải cần có cả một hệ thống chính sách, các biện pháp ở tầm quản lí vĩ mô, đóng vai trò quan trọng tạo là nền tảng, cơ sở, tạo môi trường thuận lợi, khuyến khích cho sự phát triển nhanh chóng, lành mạnh theo hướng chuyên môn hóa, hợp tác hóa, để từng bước trở thành một nền nông nghiệp sản xuất lớn đủ sức cho các thị trường lớn hơn và là cơ sở cho nền nông nghiệp trong quá trình CNH-HĐH. Bên cạnh đó KTTT không những đã thể hiện rõ nét vai trò của mình về mặt kinh tế mà còn thể hiện ở các mặt xã hội và môi trường, đặc biệt là KTTT đã khai thác tiềm năng về đất đai, lao động, vốn tại địa bàn mà TT thành lập.
Trong quá trình phát triển kinh tế thị trường, vai trò của KTTT được thể hiện ở một số nội dung cơ bản sau: m 7 - Về mặt kinh tế: TT góp phần không nhỏ vào tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, không ngừng nâng cao giá trị, phát triển các loại cây trồng và vật nuôi, từng bước khắc phục dần tình trạng sản xuất canh tác phân tán, tập trung xây dựng những vùng chuyên môn hóa, tập trung hàng hóa và thâm canh cao. Thực tế cho thấy quá trình phát triển KTTT ở những địa phương có các điều kiện thuận lợi bao giờ cũng đi liền với các hoạt động khai thác và sử dụng đầy đủ và phát huy hiệu quả các nguồn lực trong nông nghiệp, nông thôn so với kinh tế hộ nông dân. Như vậy, việc phát triển KTTT đã và đang góp phần tích cực thúc đẩy vào quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn. - Về mặt xã hội: Phát triển KTTT đã góp phần giải quyết được số lượng lớn việc làm, nâng cao thu nhập cho nông dân, nâng cao chất lượng cuộc sống góp phần trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, tạo tấm gương tốt cho họ về cách tổ chức và quản lý SXKD.
Từ đó góp phần tích cực vào việc giải quyết các vấn đề về mặt xã hội và đổi mới bộ mặt nông thôn nhờ chú trọng phát triển KTTT. - Về mặt môi trường: Bởi SXKD mang tính chất tự chủ và lợi ích mang lại thiết thực, lâu dài của chính mình cho nên những chủ TT luôn tạo cho mình ý thức khai thác tiết kiệm, hợp lý, hiệu quả và quan tâm bảo vệ môi trường, trên trước hết là trong quy mô, phạm vi không gian sinh thái TT đến phạm vi xung quanh và từng vùng. Điển hình tại các tỉnh trung du Miền núi thì TT đã góp phần không nhỏ vào việc trồng rừng, công tác bảo vệ rừng tự nhiên, từng bước góp phần phủ xanh đất trống đồi trọc và sử dụng hiệu quả tài nguyên đất đai, những việc làm đó tác động tích cực và đã góp phần không ít vào việc cải tạo và bảo vệ môi trường sinh thái ở các vùng, miền trong cả nước.