Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, phát triển công nghiệp chế biến nông sản giữ vai trò then chốt nhằm nâng cao chuỗi giá trị hàng hóa. Thành phố Châu Đốc là đô thị biên giới trực thuộc tỉnh An Giang với diện tích tự nhiên 105,23 km² và quy mô dân số đạt 111.060 người vào năm 2018. Mặc dù địa phương sở hữu vựa lúa lớn với sản lượng thu hoạch dồi dào, phần lớn sản lượng lúa gạo vẫn chủ yếu phục vụ xuất khẩu gạo thô dạng sơ chế, dẫn đến việc kìm hãm giá trị kinh tế của nông sản. Toàn thành phố năm 2018 có 114 cơ sở chế biến thực phẩm đem lại doanh thu 181.316 triệu đồng, song ngành chế biến bánh phở chỉ có 7 cơ sở hoạt động với tổng giá trị sản xuất đạt 5.011 triệu đồng. Đáng chú ý, tỷ trọng của ngành chế biến bánh phở trong cơ cấu công nghiệp chế biến thành phố có xu hướng sụt giảm liên tục từ 1,54% năm 2016 xuống còn 1,49% năm 2018. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là làm rõ nguyên nhân của sự tăng trưởng chậm và đề ra định hướng phát triển ngành hàng này. Mục tiêu nghiên cứu nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá toàn diện thực trạng chế biến bánh phở giai đoạn 2016 – 2018 và đề xuất hệ thống giải pháp phát triển bền vững. Ý nghĩa nghiên cứu hướng đến việc nâng cao giá trị gia tăng của lúa gạo từ 20% đến 30%, tạo sinh kế ổn định và đóng góp vào mục tiêu nâng thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn vượt mốc 50 triệu đồng/người/năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết phát triển công nghiệp chế biến nông sản theo phân loại chuẩn quốc tế ISIC mã ngành 3, lý thuyết chuỗi giá trị nông sản và mô hình lợi thế cạnh tranh. Đồng thời, đề tài tích hợp lý thuyết phát triển sản xuất theo chiều rộng gắn với mở rộng quy mô vốn và sản lượng, kết hợp phát triển theo chiều sâu qua đổi mới công nghệ và chuẩn hóa chất lượng. Bốn khái niệm cốt lõi được xây dựng gồm: công nghiệp chế biến nông sản, công nghiệp chế biến bánh phở, giá trị sản xuất và trách nhiệm xã hội về an toàn thực phẩm. Công nghiệp chế biến bánh phở được xác định là quá trình sử dụng nguyên liệu bột gạo, trải qua giai đoạn hồ hóa nhiệt ẩm khi tráng bánh để tạo ra sợi phở có độ dai tiêu chuẩn, an toàn vệ sinh và kéo dài thời gian bảo quản. Đề tài kế thừa khung phân tích từ công trình của Mai Thị Thanh Xuân và Ngô Đăng Thành về giải pháp phát triển chế biến nông sản, nghiên cứu chuỗi giá trị của Nguyễn Thị Minh Phượng và Nguyễn Thị Minh Hiền, cùng bài học kinh nghiệm từ làng nghề bột gạo Sa Đéc (Đồng Tháp) và các mô hình liên kết tại huyện Chợ Mới, huyện Châu Phú.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp trong giai đoạn 2016 – 2018. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám thống kê thành phố Châu Đốc năm 2018, các báo cáo chuyên ngành của Phòng Kinh tế, Hội Nông dân và các quyết định quản lý của Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang. Dữ liệu sơ cấp được điều tra thực địa với tổng cỡ mẫu là 100 phiếu khảo sát. Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích được lựa chọn nhằm bảo đảm tính đại diện toàn diện, bao gồm: 03 mẫu từ đại diện cơ quan quản lý nhà nước (Ủy ban nhân dân thành phố, Phòng Kinh tế, Hội Nông dân); 07 mẫu khảo sát 100% chủ cơ sở sản xuất bánh phở trên địa bàn; và 90 mẫu từ các hộ dân tiêu dùng phân bổ tại 5 phường và 2 xã (phường Châu Phú A: 20 mẫu, phường Núi Sam: 20 mẫu, phường Châu Phú B: 10 mẫu, phường Vĩnh Mỹ: 10 mẫu, phường Vĩnh Nguơn: 10 mẫu, xã Vĩnh Châu: 10 mẫu, xã Vĩnh Tế: 10 mẫu). Dữ liệu được tổng hợp và xử lý trên phần mềm Microsoft Excel. Việc áp dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích chuỗi thời gian, phỏng vấn chuyên gia và phân tích ma trận SWOT giúp phản ánh chính xác thực trạng, chỉ ra điểm nghẽn kỹ thuật và dự báo xu hướng thị trường.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thực trạng ngành công nghiệp chế biến bánh phở tại thành phố Châu Đốc giai đoạn 2016 – 2018 ghi nhận bốn phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, quy mô ngành nhỏ lẻ và cơ cấu kinh tế thuần túy tư nhân. Toàn thành phố có 7 cơ sở sản xuất và 100% thuộc thành phần kinh tế ngoài nhà nước, không có sự tham gia của doanh nghiệp nhà nước hay doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Cơ sở Thịnh Hưng dẫn đầu với giá trị sản xuất 1.055 triệu đồng/năm, tiếp đến là Thạnh Phong đạt 795 triệu đồng, Bà Tư đạt 775 triệu đồng, Phúc Huy đạt 723 triệu đồng, Vĩnh Phát đạt 606 triệu đồng, cơ sở 98 Thủ Khoa Nghĩa đạt 544 triệu đồng và cơ sở hẻm 53 đạt 513 triệu đồng.

Thứ hai, giá trị sản xuất tăng chậm và tỷ trọng đóng góp suy giảm. Giá trị sản xuất toàn ngành tăng từ 4.606 triệu đồng năm 2016 lên 4.764 triệu đồng năm 2017 và đạt 5.011 triệu đồng năm 2018. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng giảm từ 3,4% (giai đoạn 2016 – 2017) xuống còn 1,8% (giai đoạn 2017 – 2018). Tỷ trọng giá trị sản xuất của ngành trong tổng ngành chế biến thành phố giảm từ 1,54% năm 2016 xuống 1,52% năm 2017 và còn 1,49% năm 2018.

Thứ ba, sự mất cân đối về không gian sản xuất và phân phối. Phường Châu Phú A tập trung tới 4 trên 7 cơ sở, chiếm 56,6% tổng giá trị sản xuất toàn ngành (đạt 2.835 triệu đồng trên tổng số 5.011 triệu đồng). Trong khi đó, vùng chuyên canh lúa nguyên liệu là xã Vĩnh Châu và Vĩnh Tế chỉ có 1 cơ sở hoạt động. Hơn 80% người tiêu dùng được khảo sát cho biết họ tiếp cận sản phẩm chủ yếu tại các chợ thuộc phường Châu Phú A và Châu Phú B.

Thứ tư, công nghệ chế biến lạc hậu và sản phẩm đơn điệu. Toàn bộ 7 cơ sở đều áp dụng phương pháp tráng bánh thủ công truyền thống, 100% sản phẩm là bánh phở tươi tiêu thụ nội địa trong ngày với thời hạn bảo quản dưới 24 giờ, hoàn toàn chưa có dây chuyền sản xuất bánh phở khô đóng gói phục vụ xuất khẩu.

Thảo luận kết quả

Các số liệu thực nghiệm chứng minh ngành chế biến bánh phở Châu Đốc chưa khai thác hiệu quả tiềm năng nông nghiệp sẵn có. Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa qua biểu đồ cột thể hiện giá trị sản xuất tăng trưởng từ 4.606 đến 5.011 triệu đồng, kết hợp biểu đồ đường thể hiện đà suy giảm tốc độ tăng trưởng từ 3,4% xuống 1,8% và bảng cơ cấu vốn tư nhân 100%. Nguyên nhân sâu xa của tình trạng này là do các cơ sở thiếu vốn trung và dài hạn để đầu tư thiết bị tự động khép kín, mặt bằng chật hẹp trong khu dân cư đô thị gây khó khăn cho việc xử lý nước thải và ô nhiễm môi trường. So sánh với làng nghề Sa Đéc (Đồng Tháp) – nơi có các công ty lớn như Bích Chi, Sa Giang xuất khẩu bánh phở khô sang thị trường Mỹ, Nhật Bản, Pháp – ngành chế biến bánh phở tại Châu Đốc còn manh mún và chưa gắn kết với nguồn khách du lịch hơn 5 triệu lượt mỗi năm tại Khu Du lịch Quốc gia Núi Sam. Điều này đòi hỏi các chính sách hỗ trợ đồng bộ về vốn, công nghệ và thị trường.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm tạo động lực bứt phá cho ngành chế biến bánh phở thành phố Châu Đốc giai đoạn 2020 – 2025 và tầm nhìn 2030, bốn giải pháp trọng tâm cần được thực hiện:

Thứ nhất, hiện đại hóa máy móc và tự động hóa quy trình chế biến. Các cơ sở cần chuyển đổi từ phương pháp tráng thủ công sang dây chuyền nghiền bột mịn, tráng bánh tự động và sấy khô nhiệt kín. Target metric là nâng năng suất lao động thêm 35% đến 40%, giảm tỷ lệ hao hụt nguyên liệu xuống dưới 5%, nâng hạn bảo quản phở khô lên 12 tháng. Chủ cơ sở sản xuất chủ trì thực hiện với sự hỗ trợ kỹ thuật từ Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh An Giang trong giai đoạn 2020 – 2023.

Thứ hai, quy hoạch cụm tiểu thủ công nghiệp và đầu tư hạ tầng môi trường. Ủy ban nhân dân thành phố Châu Đốc và Phòng Kinh tế cần chủ trì di dời 4 cơ sở sản xuất trong khu dân cư phường Châu Phú A vào cụm sản xuất tập trung. Xây dựng hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn, bảo đảm 100% cơ sở đạt chứng nhận an toàn thực phẩm và tiêu chuẩn môi trường trước năm 2024.

Thứ ba, mở rộng nguồn vốn tín dụng và thu hút đầu tư doanh nghiệp. Ngân hàng Chính sách Xã hội và các ngân hàng thương mại triển khai gói tín dụng ưu đãi với lãi suất giảm từ 1,5% đến 2%/năm để cơ sở đổi mới tài sản cố định. Chính quyền thành phố cần ban hành ưu đãi mặt bằng nhằm thu hút 1 đến 2 doanh nghiệp quy mô lớn đầu tư nhà máy phở ăn liền xuất khẩu, đưa tổng giá trị sản xuất toàn ngành đạt trên 8.000 triệu đồng vào năm 2025.

Thứ tư, phát triển thương hiệu gắn với chuỗi giá trị nông nghiệp và du lịch. Phòng Kinh tế và Hội Nông dân hỗ trợ xây dựng nhãn hiệu "Bánh phở Châu Đốc", liên kết tiêu thụ nguồn gạo sạch từ xã Vĩnh Châu, Vĩnh Tế và phân phối sản phẩm phục vụ du khách tại Khu Du lịch Quốc gia Núi Sam cũng như xuất khẩu sang thị trường lân cận đến năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị tham khảo khoa học và ứng dụng thực tiễn cho bốn nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, cán bộ quản lý nhà nước tại Ủy ban nhân dân thành phố Châu Đốc, Sở Công Thương và Phòng Kinh tế. Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng phục vụ công tác xây dựng quy hoạch cụm công nghiệp, chính sách khuyến công và kế hoạch an toàn thực phẩm đô thị.

Thứ hai, các chủ cơ sở sản xuất và hộ kinh doanh chế biến bánh phở. Nghiên cứu mang lại phân tích SWOT chi tiết, giúp cơ sở nhận diện điểm yếu về công nghệ và nắm bắt các giải pháp kỹ thuật tự động hóa để chuyển dịch sang sản xuất phở khô giá trị cao.

Thứ ba, các nhà đầu tư và doanh nghiệp chế biến nông sản xuất khẩu. Luận văn cung cấp bức tranh rõ nét về dư địa thị trường, tiềm năng nguồn nguyên liệu lúa dồi dào trên diện tích 10.523 ha của thành phố và cơ hội đầu tư chuỗi chế biến sâu.

Thứ tư, giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế nông nghiệp và Công nghệ thực phẩm. Đây là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp khảo sát 100 mẫu phân tầng, kỹ thuật xử lý dữ liệu thống kê địa phương và mô hình phát triển chuỗi giá trị nông sản.

Câu hỏi thường gặp

  1. Thành phố Châu Đốc có những lợi thế nào để phát triển công nghiệp chế biến bánh phở? Thành phố Châu Đốc nằm tại ngã ba sông Hậu và sông Châu Đốc, tiếp giáp biên giới Campuchia, sở hữu nguồn lúa dồi dào từ hai xã Vĩnh Châu và Vĩnh Tế, cùng thị trường tiêu thụ lớn từ hơn 5 triệu lượt khách du lịch tham quan Khu Du lịch Quốc gia Núi Sam hàng năm.

  2. Vì sao giá trị sản xuất bánh phở tăng nhưng tỷ trọng trong ngành chế biến lại giảm giai đoạn 2016 – 2018? Giai đoạn 2016 – 2018, giá trị sản xuất bánh phở tăng từ 4.606 lên 5.011 triệu đồng, song tốc độ tăng trưởng giảm từ 3,4% xuống 1,8%. Các ngành công nghiệp may mặc và thực phẩm khác tăng trưởng nhanh hơn, khiến tỷ trọng ngành bánh phở giảm từ 1,54% xuống 1,49%.

  3. Cỡ mẫu 100 phiếu khảo sát được phân bổ như thế nào để đảm bảo tính khoa học? Mẫu khảo sát gồm 03 mẫu từ đại diện chính quyền (UBND, Phòng Kinh tế, Hội Nông dân), 07 mẫu từ toàn bộ 100% chủ cơ sở sản xuất bánh phở trên địa bàn và 90 mẫu từ các hộ dân tiêu dùng phân bổ tại 5 phường và 2 xã, bảo đảm phản ánh đa chiều từ quản lý đến tiêu thụ.

  4. Trở ngại lớn nhất của các cơ sở chế biến bánh phở tại Châu Đốc hiện nay là gì? Trở ngại lớn nhất là quy mô sản xuất nhỏ lẻ tại gia đình với 100% vốn tư nhân, thiếu vốn đầu tư máy móc tự động hóa khép kín, chỉ sản xuất phở tươi bảo quản dưới 24 giờ và gặp khó khăn trong việc xử lý nước thải đạt chuẩn môi trường.

  5. Kinh nghiệm từ làng nghề Sa Đéc có thể áp dụng cho Châu Đốc như thế nào? Châu Đốc có thể học tập Sa Đéc trong việc quy hoạch cụm làng nghề chế biến tập trung, thu hút doanh nghiệp đầu tư dây chuyền sản xuất bánh phở khô ăn liền đóng gói đạt chuẩn xuất khẩu sang thị trường quốc tế và kết hợp quảng bá qua du lịch địa phương.

Kết luận

Nghiên cứu về phát triển công nghiệp chế biến bánh phở trên địa bàn thành phố Châu Đốc mang lại những đóng góp khoa học và thực tiễn sâu sắc:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về phát triển công nghiệp chế biến nông sản theo chiều rộng và chiều sâu, làm rõ chuỗi giá trị của sản phẩm chế biến từ lúa gạo.
  • Khắc họa bức tranh thực trạng ngành giai đoạn 2016 – 2018 với 7 cơ sở tư nhân đạt giá trị sản xuất 5.011 triệu đồng, chỉ ra sự suy giảm tỷ trọng đóng góp từ 1,54% xuống 1,49%.
  • Nhận diện các nguyên nhân cốt lõi kìm hãm sự phát triển do công nghệ thủ công, thiếu vốn đầu tư và phân bố sản xuất chưa gắn kết chặt chẽ với vùng nguyên liệu.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động đồng bộ về đổi mới công nghệ, quy hoạch cụm công nghiệp, hỗ trợ tín dụng ưu đãi và mở rộng thị trường gắn với du lịch.
  • Đóng góp cơ sở thực chứng giá trị phục vụ công tác quy hoạch kinh tế – xã hội thành phố Châu Đốc giai đoạn 2020 – 2025, định hướng đưa giá trị sản xuất ngành đạt trên 8.000 triệu đồng.

Trong lộ trình tiếp theo từ năm 2021 đến 2025, chính quyền địa phương và các cơ sở sản xuất cần nhanh chóng triển khai mô hình hợp tác xã chế biến và thử nghiệm dòng sản phẩm phở khô đóng gói. Các doanh nghiệp và nhà đầu tư hãy chủ động đón đầu cơ hội, ứng dụng công nghệ hiện đại nhằm nâng tầm giá trị hạt gạo An Giang trên thị trường trong nước và quốc tế.