Chương 1: Cơ sở lý luận chung về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Chương 2: Thực trạng cải thiện chỉ số năng lực cạnh tranh PCI tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2016- 2019. Chương 3: Giải pháp nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh PCI tỉnh Đồng Tháp đến năm 2025. 10 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH 1. Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 1.
Lý luận chung về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Năng lực cạnh tranh là khái niệm tổng hợp đƣợc tổng hợp xây dựng trên cơ sở kết nối và tổ hợp hệ thống nhiều yếu tố cả bên trong và bên ngoài ở các cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp doanh nghiệp với tƣ cách là những thực thể độc lập (Phan Nhật Thanh, 2010). Năng lực cạnh tranh thể hiện ở các phạm vi khác nhau, gồm: năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, năng lực cạnh tranh của ngành, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, và năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế đƣợc hiểu là khả năng đạt đƣợc tốc độ tăng trƣởng cao và bền vững của nền kinh tế, là tăng năng lực sản xuất bằng việc đổi mới, sử dụng công nghệ cao hơn, đào tạo kỹ năng liên tục, quan tâm đến công bằng và bảo vệ môi trƣờng xã hội (Từ Quang Phƣơng và Phạm Văn Hùng, 2013). Trong quản lý kinh tế ở nhiều quốc gia đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng, chế độ phân chia quyền hạn và trách nhiệm, thẩm quyền quản lý kinh tế của Trung ƣơng cho chính quyền địa phƣơng đƣợc đẩy mạnh nhằm tạo ra sự phát triển cạnh tranh lành mạnh và phù hợp, khái thác tốt lợi thế của từng địa phƣơng trong quá trình thực hiện mục tiếu tăng trƣởng và phát triển kinh tế.
Các địa phƣơng sẽ có những chính sách và bƣớc đi phù hợp với điều kiện cụ thể của riêng mình. Nhƣng vấn đề các nguồn lực huy động cho đầu tƣ phát triển và cũng nhƣ cách thức huy động là gặp khó khăn chung đối với tất cả các địa phƣơng trong cả nƣớc. Từ đó dẫn đến sự cạnh tranh giữa các địa phƣơng trong vùng, giữa vùng với vùng trong cả nƣớc. 11 Nhìn chung, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là khả năng cạnh tranh của các tỉnh nhằm thu hút đầu tƣ phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở các thế mạnh của từng địa phƣơng trong mối quan hệ liên kết với những địa phƣơng khác trong vùng, trong phạm vi cả nƣớc.
Vai trò của chính quyền địa phương cấp tỉnh trong nền kinh tế thị trường Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trƣờng theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, vai trò của các cấp chính quyền, nhất là cấp chính quyền địa phƣơng (tỉnh) có vai trò đặc trƣng là tính toàn diện, trực tiếp và là trung tâm điều phối trên mọi lĩnh vực. Vai trò này gắn liền với chức năng quản lý, tổ chức và điều hành trên mọi lĩnh vực của sản xuất, đời sống xã hội tại địa phƣơng và gắn trực tiếp với quyền, lợi ích hợp pháp của những công dân, tổ chức hay những nhóm đối tƣợng cụ thể khác. Chính quyền cấp tỉnh luôn giữ vai trò trung tâm và chi phối hoạt động trong hệ thống chính quyền địa phƣơng. Nhìn chung, chính quyền địa phƣơng cấp tỉnh có một số vai trò cơ bản sau: Chính quyền cấp tỉnh đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của địa phƣơng.
Chính quyền cấp tỉnh đóng vai trò quạn trọng trong việc đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, phát triển nguồn nhân lực ở địa phƣơng (Nguyễn Thị Thu Hà, 2009). Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 1. Tổng quan về chỉ số PCI Để dánh giá môi trƣờng đầu tƣ của một địa phƣơng có nhiều chỉ số để đánh giá nhƣ: chỉ số năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, chỉ số xếp hạng rủi ro quốc gia, chỉ số nhận thức về tham nhũng, chỉ số xếp hạng kinh doanh (Từ Quang Phƣơng và Phạm Văn Hùng, 2013). Xong hiện nay để đánh giá môi trƣờng đầu tƣ của các tỉnh, ở Việt Nam sử dụng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (viết tắt PCI – Provincial Competitiveness Index)) là chỉ số đánh giá và xếp hạng chính quyền các tỉnh, thành của Việt Nam 12 trong việc xây dựng môi trƣờng kinh doanh thuận lợi (Phan Nhật Thanh, 2010; Đỗ Minh Trí, 2015).
Một trong những thƣớc đo trong việc cải thiện môi trƣờng đầu tƣ đƣợc thể hiện thông qua chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) do phòng Thƣơng mại và Công nghiệp Việt Nam tiến hành hàng năm điều tra môi trƣờng kinh doanh cấp địa phƣơng – đây là chỉ số đánh giá chất lƣợng điều hành kinh tế các tỉnh thành phố nhằm thúc đẩy phát triển khu kinh tế tƣ nhân và thu hút đầu tƣ. Sự khác biệt về điều hành kinh tế của các địa phƣơng phần nào lí giải đƣợc thông qua việc thu hút đầu tƣ ở các địa phƣơng. Cùng một điều kiện tự nhiên và kết cấu hạ tầng tƣơng đƣơng song mỗi khu vực lại có những cách điều hành hỗ trợ thu hút đầu tƣ tạo môi trƣờng thông thoáng hơn cho hoạt động các doanh nghiệp, tạo điều kiện để thúc đẩy, hấp dẫn thu hút đầu tƣ mặc dù điều kiện tự nhiên và kết cấu hạ tầng là gần nhƣ nhau. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI đƣợc xây dựng nhằm lý giải nguyên nhân tại sao trên cùng một quốc gia một số tỉnh lại tốt hơn những tỉnh khác về mức tăng trƣởng và sự phát triển năng động của khu vực kinh tế tƣ nhân.
Sử dụng dữ liệu điều tra doanh nghiệp, là đánh giá và cảm nhận của doanh nghiệp đối với môi trƣờng kinh doanh địa phƣơng, kết hợp với các dữ liệu tin cậy và có thể so sánh đƣợc thu thập từ các nguồn chính thức và các nguồn khác về địa phƣơng, chỉ số PCI xếp hạng năng lực cạnh tranh các tỉnh trên thang điểm 100. Chỉ số tổng hợp PCI từ năm 2006-2008 bao gồm 10 chỉ số thành phần phản ánh những khía cạnh quan trọng khác nhau của môi trƣờng kinh doanh cấp tỉnh: Chi phí gia nhập thị trƣờng (chi phí thành lập doanh nghiệp) Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất Tính minh bạch và tiếp cận thông tin Chi phí thời gian Chi phí không chính thức Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh Thiết chế pháp lý 13 Đào tạo lao động Cải cách hành chính (năm 2012) Qua 5 năm thực hiện điều tra và công bố PCI (từ 2006-2010), thực tế đã chứng minh rằng, các tỉnh, thành ngày càng quan tâm nhiều hơn đến chỉ số năng lực cạnh tranh, coi đó là một trong những thƣớc đo, tiêu chí phát triển của mình; Đồng thời qua đó, tiến hành nhiều chƣơng trình thiết thực, hiệu quả để cải thiện, nâng cao chất lƣợng môi trƣờng kinh doanh. Cũng qua đó, cộng đồng doanh nghiệp cả trong và ngoài nƣớc, hệ thống các nhà đầu tƣ ngày càng tin tƣởng và hy vọng hơn vào những cải cách triệt để, kiên trì của từng cấp ủy, chính quyền địa phƣơng nhằm góp phần nâng cao chất lƣợng môi trƣờng kinh doanh, tạo điều kiện cho sản xuất – kinh doanh phát triển bền vững. Nội dung chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 1.
Chi phí gia nhập thị trường Chỉ số này đƣợc xây dựng nhằm đánh giá sự khác biệt về chi phí gia nhập thị trƣờng của các doanh nghiệp mới thành lập giữa các tỉnh với nhau. Các chỉ tiêu cụ thể bao gồm: Thời gian đăng ký doanh nghiệp - số ngày; Thời gian thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp - số ngày; % Doanh nghiệp cần thêm giấy phép kinh doanh khác; Tổng số giấy đăng ký và giấy phép cần thiết để chính thức hoạt động (sau 2010); Thời gian chờ đợi để đƣợc cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất; % DN phải chờ hơn một tháng để hoàn thành tất cả các thủ tục để chính thức hoạt động; % DN phải chờ hơn ba tháng để hoàn thành tất cả các thủ tục để chính thức hoạt động. Một số chỉ tiểu mới: % DN đăng ký hoặc sửa đổi đăng ký kinh doanh thông qua bộ phận Một cửa; 14 Thủ tục tại bộ phận Một cửa đƣợc niêm yết công khai; Hƣớng dẫn về thủ tục tại bộ phận Một cửa rõ ràng và đầy đủ; Cán bộ tại bộ phận Một cửa am hiểu về chuyên môn (% đồng ý); Cán bộ tại bộ phận Một cửa nhiệt tình, thân thiện (% đồng ý); Ứng dụng công nghệ thông tin tại bộ phận Một cửa tốt (% đồng ý); Không có lập luận nào ở trên là đúng (% đồng ý). Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất.
Chỉ số này đo lƣờng về hai khía cạnh của vấn đề đất đai mà doanh nghiệp phải đối mặt: việc tiếp cận có dễ dàng không và doanh nghiệp có thấy yên tâm và đƣợc đảm bảo về sự ổn định khi có đƣợc mặt bằng kinh doanh hay không gồm: Phần trăm DN có mặt bằng kinh doanh và có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Phần trăm diện tích đất trong tỉnh có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; DN ngoài quốc doanh không gặp cản trở về tiếp cận đất đai hoặc mở rộng mặt bằng kinh doanh; DN đánh giá rủi ro bị thu hồi đất (1: Rất cao đến 5: rất thấp); Nếu bị thu hồi đắt, DN sẽ đƣợc bồi thƣờng thỏa đáng (phần trăm luôn luôn hoặc thƣờng xuyên); Sự thay đổi khung giá đất của tỉnh phù hợp với sự thay đổi của giá thị trƣờng (phần trăm đồng ý). Một số chỉ tiểu mới: Phần trăm DN thực hiện các thủ tục hành chính về đất đai trong vòng 2 năm qua nhƣng không gặp bất kỳ khó khăn nào về thủ tục; Phần trăm DN có nhu cầu đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhƣng không có do thủ tục hành chính rƣờm rà lo ngại cán bộ nhũng nhiễu.