phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về phát triển cây cà phê Chƣơng 2: Thực trạng phát triển cây cà phê trên địa bàn huyện Cƣ Kuin, tỉnh Đăk Lăk. Chƣơng 3: Một số giải pháp phát triển cây cà phê trên địa bàn huyện Cƣ Kuin, tỉnh Đăk Lăk. Tổng quan tài liệu nghiên cứu. -“Hiệu quả kinh tế dây chuyền chế biến cà phê nhân trên địa bàn Tây Nguyên”.
Tác giả Bùi Đức Thịnh (2005), Trƣờng Đại học Nông nghiệp I là một luận văn thạc sĩ kinh tế. Trong nghiên cứu này, tác giả chỉ ra Tây Nguyên là vùng trồng và sản xuất cà phê trọng điểm của cả nƣớc, cũng là nơi tập trung các loại dây chuyền chế biến cà phê chủ yếu. Tuy nhiên các thiết bị dây chuyền còn nhiều bất cập về các khía cạnh: Năng suất, chất lƣợng làm việc, vệ sinh môi trƣờng, tính đồng bộ đã làm ảnh hƣởng đến chất lƣợng cà phê cũng nhƣ Luan van 4 làm tăng giá thành chế biến. Đề tài đã hệ thống hóa lý luận cơ bản về hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả chế biến cà phê nói riêng; đánh giá thực trạng dây chuyền chế biến cà phê nhân trong các doanh nghiệp và một số tổ hợp thiết bị chế biến cà phê quy mô hộ trên địa bàn Tây Nguyên; đánh giá hiệu quả kinh tế một số dây chuyền, tổ hợp thiết bị chế biến cà phê đại diện; khuyến cáo các cơ sở chế biến cà phê lựa chọn trang bị các dây chuyền phù hợp, có hiệu quả kinh tế; đề ra một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế chế biến cà phê trên địa bàn Tây Nguyên [20].
- “Phát triển ngành sản xuất cà phê bền vững ở Tây nguyên” Tác giả Bùi Quang Bình (2008), Trƣờng Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng. Để phát triển thành công ngành sản xuất cà phê này trong những năm tới cần xác định phƣơng hƣớng phát triển ngành sản xuất này trên cơ sở những căn cứ nhất định và chuẩn bị các bƣớc để thích ứng với quá trình hội nhập vào WTO bảo đảm cho ngành sản xuất phát triển bền vững. (1) Xây dựng ngành sản xuất cà phê thành ngành sản xuất hàng hóa tập trung trên quy mô lớn phát triển bền vững. Chú trọng phát triển theo chiều rộng và chiều sâu.
(2) Lựa chọn mô hình sản xuất phù hợp với sản xuất cà phê; Tiếp tục khuyến khích kinh tế hộ gia đình sản xuất cà phê, hình thành và phát triển các trang trại sản xuất cà phê. Từng bƣớc hình thành các hợp tác xã sản xuất cà phê theo hƣớng kinh doanh tổng hợp. (3) Tổ chức hệ thông các hoạt động dịch vụ; Củng cố và hình thành hệ thống các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ tƣ vấn kỹ thuật khuyến nông và bảo vệ thực vật. Trên cơ sở phƣơng hƣớng đó các địa phƣơng cần thiết thực hiện đồng bộ các giải pháp duy trì quy mô sản xuất hợp lý, bảo đảm quy hoạch; Phát triển theo chiều sâu dựa vào đầu tƣ thâm canh; Áp dụng mô hình sản xuất hợp lý [5].
- “Phát triển cà phê bền vững trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk ”. Tác giả Nguyễn Văn Hóa năm 2014, là một luận án tiến sĩ Trƣờng Đại học Kinh tế Luan van 5 Huế. Luận án đã phân tích những mặt đƣợc và tồn tại trong PTCPBV ở tỉnh Đắk Lắk, trong đó nêu rõ phát triển cà phê ở tỉnh Đắk Lắk tăng trƣởng qua hàng năm, có hiệu quả và lợi thế cạnh tranh nhƣng chƣa ổn định. Phát triển cà phê giúp tăng thu nhập, giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo nhƣng chƣa bình đẳng.
Phát triển cà phê là một trong những nguyên nhân làm suy giảm môi truờng và làm mất cân bằng sinh thái. Luận án đã đi sâu phân tích các nguyên nhân thúc đẩy và làm cản trở PTCPBV ở Đắk Lắk, bao gồm i) Điều kiện tự nhiên; ii) Chủ thể sản xuất; iii) Thị trƣờng; iv) Chính phủ. Từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận án đã xác định các giải pháp và chính sách phù hợp bảo đảm PTCPBV ở tỉnh Đắk Lắk và khẳng định nhóm chủ thể sản xuất là nền tảng quyết định. Bên cạnh đó cần tích cực phát triển thị trƣờng, mở rộng thị trƣờng tiêu dùng nội địa, đầu tƣ và đổi mới công nghệ và kỹ thuật sản xuất kinh doanh cà phê và sự hỗ trợ từ chính sách và đầu tƣ công của Chính phủ để bảo đảm PTCPBV [10].
- "Đề án qui hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng giai đoạn 2002 - 2005 tỉnh Đăk Lăk". Sở NN&PTNT (2003). Đề án đã xây dựng hệ thống cách thức, biện pháp thực hiện quy hoạch trong đó đề cập đến việc chuyển đổi diện tích các loại cây trồng bao gồm cả cây cà phê. Đề án xác định lộ trình thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng giai đoạn 2002 – 2005.
Chú trọng phát triển cà phê theo chiều sâu gắn với phát triển kinh tế. Nghiên cứu này giúp tác giả có thể đánh giá toàn diện về phát triển cây cà phê, có cái nhìn tổng quan về việc sắp xếp, bố trí trồng cây cà phê theo hƣớng bền vững [16]. - "Dự án quy hoạch phát triển cà phê bền vững giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến 2020". Sở NN&PTNT (2012).
Dự án đƣợc tiến hành điều tra, nghiên cứu, lập quy hoạch trên phạm vi toàn tỉnh, gồm 15 đơn vị hành chính cấp huyện, thị xã và thành phố với tổng diện tích tự nhiên 13. Dự án đề xuất các giải pháp đặc thù cùng với các chính sách hỗ trợ kết hợp việc tổ Luan van 6 chức thực hiện của các cơ quan, tổ chức nhằm xây dựng các vùng chuyên canh cà phê góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế, ổn định an sinh xã hội và đảm bảo môi trƣờng. Nghiên cứu này là tài liệu tham khảo tốt để tác giả có thể định hƣớng đƣợc việc bố trí và tổ chức sản xuất cây cà phê một cách chi tiết trên địa bàn huyện Cƣ Kuin, là cơ sở kế thừa và phát triển sâu hơn nữa một số giải pháp mới thiết thực, tìm ra hƣớng đi mới để phát triển cây cà phê huyện huyện Cƣ Kuin [17]. - “Phát triển cà phê bền vững trên địa bàn huyện Cư Mgar tỉnh Đăk Lăk”.
Tác giả Phạm Quốc Duy, năm 2012 là một luận văn thạc sĩ Trƣờng Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Đề tài đã chỉ ra đƣợc thực trạng phát triển sản xuất cà phê trên địa bàn huyện Cƣ Mgar, xác định đƣợc các nhân tố ảnh hƣởng và đánh giá đƣợc tính bền vững về mặt kinh tế, xã hội và môi trƣờng trong việc phát triển cà phê của huyện. Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp, hƣớng đi mới trong việc thực hiện từ hộ nông dân đến cấp quản lý. Các kết quả này có ý nghĩa với nghiên cứu đang đƣợc thực hiện của tác giả bởi đã giúp cho tác giả kế thừa và phát triển trong đề tài của mình, có cái nhìn tổng quan, rõ ràng và có khoa học về phát triển cây cà phê [8].
- “Phát triển cà phê chè của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Krông Năng tỉnh Đăk Lăk ”. Tác giả Phạm Văn Quang, năm 2012 là một luận văn thạc sĩ Trƣờng Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Đề tài đã chỉ ra đƣợc thực trạng phát triển sản xuất cà phê chè trên địa bàn huyện Krông Năng, xây dựng mô hình hồi quy các nhân tố ảnh hƣởng đến năng suất cà phê chè huyện Krông Năng. Đánh giá kết quả đạt đƣợc và những tồn tại hạn chế phát triển cà phê chè tại huyện.
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của sản xuất cà phê chè các hộ nông dân. Nghiên cứu giúp tác giả kế thừa, xem xét và bổ sung các nhân tố ảnh hƣởng đến phát triển kinh tế trang trại. Nghiên cứu đã định lƣợng hóa các nhân tố thông qua mô hình CD một cách tổng quát Luan van 7 và khoa học là cơ sở để tác giả phân tích và đánh giá tác động, mức độ ảnh hƣởng của các nhân tố [26]. - “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế cây cà phê tại huyện Thống Nhất tỉnh Đồng Nai”.
Tác giả Huỳnh Ngọc Vị (2006), Trƣờng Đại học Nông lâm thành phố Hồ Chí Minh. Thông qua việc đánh giá hiệu quả kinh tế cây cà phê đã tính đƣợc chỉ tiêu NPV = 23.000 đ, IRR = 22,24%, và Lợi nhuận nông dân là 5. Tuy nhiên, trong nghiên cứu, tác giả chƣa đƣa ra đƣợc đâu là hiệu quả kỹ thuật, đâu là hiệu quả phân bổ để giúp ngƣời nông dân nên quan tâm đến lĩnh vực nào, yếu tố đầu tƣ nào để nâng cao năng suất, hiệu quả kỹ thuật nhằm mục đích nâng cao hiệu quả kinh tế [23]. - "Cây cà phê và sự phát triển bền vững của ĐăkLăk".
Hội thảo khoa học đƣợc tổ chức tại Buôn Ma Thuột (18-7/2007) đã đƣa ra những ý tƣởng về một vùng cà phê có giá trị cao nhờ vào sự thân thiện với môi trƣờng. Tại đây, tại hội thảo này cũng chỉ rõ: Tây nguyên trồng nhiều cà phê, nhƣng xuất thô với chất lƣợng kém, nên mất thế cạnh tranh phần lớn nguồn lợi vào tay các công ty có thƣơng hiệu toàn cầu [24]. - “Chiến lược phát triển bền vững cho cà phê Việt nam” của ông Đặng Lê Nguyên Vũ” đăng trên báo điện tử của VICOFA- Hiệp hội cà phê Việt nam đã đƣa ra các quan điểm rộng về cà phê; chỉ ra tiềm năng và lợi thế so sách của ngành cà phê Việt nam và đề xuất các chiến lƣợc cho ngành cà phê Việt Nam: Tiến hành quy hoạch; Sử dụng kỹ thuật trong quá trình trồng và chăm sóc; Dự báo sự thay đổi nhu cầu của thị trƣờng; Lựa chọn nguyên liệu đầu vào kỹ lƣỡng hơn; Xây dựng những kênh thông tin hữu hiệu; Thành lập uỷ ban điều phối ngành hàng cà-phê; Xây dựng, liên kết những hiệp hội [26]. - Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Đắk Lắk và Cty Tƣ vấn EDE phối hợp tổ chức hội thảo "Từ dự án thí điểm đến mở rộng sản xuất cà phê bền vững".
Tham dự hội thảo có các đại biểu đến từ Hiệp hội Cà phê & Luan van 8 Ca cao Việt Nam (VICOFA), Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn tỉnh Đắk Lắk, Hội Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI), Trung tâm Nghiên cứu đất Tây Nguyên (CSC), Cafécontrol, các nông dân địa phƣơng.