Chương 1 TRUYỆN ĐỒNG THOẠI VIỆT NAM HIỆN ĐẠI VÀ KIỂU NHÂN VẬT PHIÊU LƯU 1.Truyện đồng thoại Việt Nam hiện đại 1. Khái niệm truyện đồng thoại Thuật ngữ truyện đồng thoại (hay đồng thoại) trong văn học Việt Nam hiện đại vốn có nguồn gốc từ Trung Quốc. Trong công trình Truyện đồng thoại Việt Nam hiện đại, Lê Nhật Ký đã giới thuyết rất rõ nguồn gốc của khái niệm truyện đồng thoại. Vào thời điểm đầu thập niên 60 của thế kỉ XX, với nhu cầu xây dựng một nền văn học thiếu nhi vững mạnh đáp ứng nhu cầu bạn đọc trong nước cũng như dồi dưỡng tâm hồn cho các em, nhà xuất bản Văn học đã cho dịch các tài liệu lí luận về sáng tác truyện cho thiếu nhi.
Một trong số đó là bài viết Sáng tác đồng thoại và một số vấn đề khác của Kim Cận và Mạn đàm về vấn đề sáng tác văn học nhi đồng của Hạ Nghi có đề cập tới quan niệm đồng thoại. Thuật ngữ đồng thoại chính thức được sử dụng ở Việt Nam vào năm 1961, trong bài viết Những thiếu sót cần khắc phục trong sáng tác cho thiếu nhi hiện nay của Vũ Ngọc Bình, đăng trên báo Văn Nghệ. Tiếp đó đến Võ Quảng với bài viết Đảng và văn học thiếu nhi, Vân Thanh với Văn học thiếu nhi Việt Nam… [31, tr. Theo thời gian, thuật ngữ truyện đồng thoại được sử dụng ngày một rộng rãi hơn.
Có lúc truyện đồng thoại chỉ được điểm qua trong các bài báo chuyên luận bàn về văn học thiếu nhi nhưng có khi nó được bàn luận cụ thể trong một chủ đề riêng biệt. Việc xác định truyện đồng thoại chính thức trở thành một thể loại văn học riêng biệt buộc các nhà nghiên cứu phải đưa ra một khái niệm cụ thể cho đồng thoại. Mục từ đồng thoại hoặc truyện đồng thoại được nhắc đến trong khá nhiều cuốn từ điển ngôn ngữ (Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh, Hán – Việt 12 từ điển của Thiều Chửu, Từ điển Tiếng Việt của Bùi Quang Tinh và Bùi Thị Tuyết Khanh). Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên bản mới nhất có nêu định nghĩa đồng thoại là “thể truyện cho trẻ em trong đó loài vật và các vật vô tri được nhân cách hóa tạo nên một thế giới thần kì, thích hợp với trí tưởng tượng của các em” [52, tr.
Theo định nghĩa này mục từ đồng thoại được giảng theo nghĩa hẹp, thay vì gọi đồng thoại là truyện cho trẻ em chung chung, khái niệm đồng thoại được khu biệt nhìn nhận như một thể loại văn học. Từ điển ngôn ngữ đã có sự nhìn nhận quan tâm đồng thoại tuy nhiên trên “khu vực sân nhà” – Từ điển văn học, mục từ đồng thoại chưa nhận được sự quan tâm tương tự. Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy các hầu hết các Từ điển văn học chưa đưa mục từ đồng thoại vào trong từ điển. Thuật ngữ đồng thoại chỉ mới xuất hiện trên các bài báo nghiên cứu chuyên ngành, các cuốn sách chuyên khảo.
Vân Thanh là người đưa ra định nghĩa đầu tiên về đồng thoại vào năm 1974 trong bài viết Tìm hiểu đặc điểm của truyện đồng thoại. Vân Thanh đưa ra qua điểm: “Đồng thoại là một thể loại đặc biệt của văn học, có sự kết hợp giữa hiện thực và mơ tưởng. Nhân vật chính thường là động vật, thực vật và những vật vô tri nhưng lại mang tính cách “người”. Qua thế giới không thực mà lại thực đó, tác giả nhằm biểu hiện xã hội loài người; qua những sự việc bất bình thường đó tác giả cho người đọc thấy tình cảm và cuộc sống của con người.
Tính chất mơ tưởng và khoa trương chính là những yếu tố không thể thiếu được của đồng thoại” [68, tr. Tuy định nghĩa đồng thoại đưa ra khá chi tiết nhưng bản thân tác giả vẫn có chỗ ngập ngừng chưa dứt khoát. Trong bối cảnh vấn đề lý luận về thể loại truyện đồng thoại chưa được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm thì vấn đề Vân Thanh đưa ra rất đáng quý và trân trọng. Bên cạnh việc đưa ra khái niệm đồng thoại, Vân Thanh cũng đưa ra vấn 13 đề cần phải phân biệt đồng thoại với một số loại văn học khác, như huyền thoại hoặc văn học dân gian.
Điểm khác nhau rõ nhất giữa đồng thoại và huyền thoại là ở “đối tượng viết”. Đối tượng chủ yếu của đồng thoại là các em còn huyền thoại thì đối tượng viết chính là cho người lớn, nội dung thường mang nghĩa triết học thâm thúy và phương pháp biểu hiện thường có khi rắc rối, phức tạp. Quan hệ giữa văn học dân gian và đồng thoại cũng là vấn đề Vân Thanh bàn bạc. Văn học dân gian “chính là một trong những nguồn gốc của đồng thoại, là nguồn cung cấp tài liệu không bao giờ cạn cho sáng tác đồng thoại” mặc khác “đồng thoại cũng có nhiều nét gần với cổ tích thần kì và ngụ ngôn trong văn học dân gian” [68, tr.105] Không chỉ các nhà nghiên cứu tìm hiểu, lí giải đồng thoại mà bản thân các nhà văn, những người trực tiếp sáng tác nên tác phẩm đồng thoại, cũng thể hiện quan điểm ý kiến của riêng mình, đóng góp cho mặt bằng chung của lí luận thể loại đồng thoại.
Trong số đó phải kể đến Võ Quảng với bài viết Lại nói về truyện đồng thoại viết cho thiếu nhi (đăng trên Tạp chí Văn học số 1/1982), ông đã đưa ra những ý kiến của riêng mình đối với mặt thể loại đồng thoại, nơi ông gắn bó đóng góp khá nhiều sáng tác của mình (23 tác phẩm). Nhà văn đưa ra quan niệm truyện đồng thoại là một thể loại tự sự hiện đại dành cho thiếu nhi, một loại hình văn chương rất phù hợp với thiếu nhi, vì nó “làm cho các em dễ hiểu dễ xúc động”. Trong bài viết ông có đề cập đến yếu tố tưởng tượng của đồng thoại và gọi nó là “loại truyện giàu chất tưởng tượng”, chất tưởng tượng ấy được bắt nguồn từ “thực tế” hoặc “từ một thói quen về một tập tục, về tín ngưỡng nào đó”. Hệ thống nhân vật của đồng thoại hết sức đa dạng: bên cạnh nhân vật con người thì “còn đủ các loài vật, loài có xương sống, hoặc không có xương sống, biết nhảy, biết bay, biết đi, biết lội… Nhân vật đồng thoại còn là các loài cây cỏ hoa quả mọc ở bất cứ khí hậu nào.
Cả cây kim sợi chỉ cho đến đoàn tàu, chiếc cầu sắt đều có thể biến thành 14 nhân vật đồng thoại” [62, tr. Võ Quảng cũng hết sức nhấn mạnh đặc điểm nhân cách hóa ở những nhân vật loài vật, cỏ cây, đồ dùng trong truyện đồng thoại. Nhưng ông không chăm chăm vào yếu tố nhân cách hóa ấy để đưa ra làm đặc điểm khu biệt của đồng thoại mà ông nhấn mạnh sự hòa điệu giữa chất người và chất vật. Võ Quảng đã rất tỉnh táo khi nhận định có chất người chưa đủ để làm nên đồng thoại hay vì nếu chỉ có thế thì “cứ để “nhân vật” đó là một con người, chẳng cần phải nhân cách hóa làm gì nữa”.
Nhà văn đã tinh tế nhận ra rằng điểm hấp dẫn của đồng thoại là ở chất người và vật hòa quyện vào nhau “tùy nơi, tùy lúc, đậm nhạt khác nhau”, yếu tố này mới là điều quan trọng tạo nên “chất nghệ thuật cho đồng thoại” [62, tr.76] Nhà văn Văn Hồng, nguyên Tổng biên tập Nhà xuất bản Kim Đồng, một người đã gắn bó cả cuộc đời mình trong việc theo dõi phong trào sáng tác và viết phê bình – giới thiệu sách cho thiếu nhi, cũng đã nêu nhận định của mình về truyện đồng thoại như sau: “Đồng thoại theo Đào Duy Anh là truyện chép cho trẻ em (Từ điển Hán Việt). Nhưng trong nghĩa thông thường lâu nay vẫn dùng, đồng thoại có nghĩa hẹp hơn: Truyện loài vật được nhân cách hóa” [21, tr. Với kinh nghiệm của một người làm công tác xuất bản, ông cũng khẳng định đồng thoại là “loại hình hợp với thị hiếu và tâm lí trẻ em, cái tâm lí thích nhìn sự vật trong những phép màu” [21, tr.54] Tiếp nối những quan điểm, nhận định của thế hệ đi trước, các nhà nghiên cứu văn học thiếu nhi sau này đã vận dụng và đưa ra những khái niệm đồng thoại đầy đủ hơn. Trong giáo trình Văn học thiếu nhi, tác giả Châu Minh Hùng định nghĩa: “Thể loại văn học được các nhà văn viết cho các em với bút pháp kế thừa từ đồng thoại dân gian gọi là đồng thoại hiện đại.
Vẫn là truyện lấy loài vật (con vật, cỏ cây, hoa quả…) làm đối tượng miêu tả, nhưng với tư cách là văn học viết, đồng thoại hiện đại phải mới so với đồng thoại dân gian” (22, tr.107) Như vậy đối với Châu Minh Hùng đồng thoại có một sự 15 tiếp biến và gắn nối giữa quá khứ - hiện tại. Mạch nguồn của văn học dân gian đã nuôi dưỡng văn học viết, ở đây là các truyện ngụ ngôn, các truyện cổ tích về loài vật đã là kho tài liệu vô giá đối với các nhà văn đồng thoại. Ở công trình Truyện đồng thoại trong văn học Việt Nam hiện đại, sau khi tổng hợp các tư liệu cũng như ý kiến đánh giá, Lê Nhật Ký đã rút ra hai ý chính về khái niệm đồng thoại. Thứ nhất, trong suy nghĩ của nhiều người, nói đến truyện đồng thoại là nói đến “những sáng tác hiện đại trong nền văn học nước nhà”.
Thứ hai, xét theo nghĩa hẹp, “truyện đồng thoại là một thể loại (hay thể tài) hiện đại dành cho trẻ em có hình thức đặc thù là nhân cách hóa nhân vật, kể chuyện vật mà gián tiếp đề cập chuyện con người” [31, tr. Đây cũng quan niệm được nhiều nhà nghiên cứu cũng như chính bản thân các nhà văn sáng tác truyện đồng thoại đồng tình. Chúng tôi cũng đồng tình với quan điểm này. Nhìn chung, truyện đồng thoại có nhiều điểm gần gũi với truyện cổ tích về loài vật, truyện ngụ ngôn truyện loài vật.
Điểm chung của ba loại truyện này là lấy nhân vật loài vật làm nhân vật chính. Nhưng mỗi loại truyện lại có cách khai thác riêng để tạo nên đặc sắc của riêng mình. Vấn đề này được Châu Minh Hùng và Lê Nhật Ký làm rất rõ trong Hệ thống thể loại trong văn học thiếu nhi. Theo hai tác giả điểm khác nhau cơ bản giữa ba thể loại là: Thứ nhất, giữa truyện cổ tích về loài vật và truyện đồng thoại.