Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI CÓ UY TÍN 1. Một số vấn đề cơ bản liên quan đến người có uy tín 1. Khái niệm người có uy tín Người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số (hay còn gọi là người có uy tín) là một bộ phận quần chúng đặc biệt, họ có vai trò, vị trí quan trọng đối với cộng đồng đồng bào dân tộc thiểu số trong việc tuyên truyền, vận động thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và những quy định của địa phương về phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo và giữ gìn khối đại đoàn kết toàn dân. Theo Quyết định số 2561/QĐ - TTg ngày 31/12/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “tăng cường vai trò của người có uy tín trong vùng dân tộc thiểu số” và Quyết định số 12/2018/QĐ-TTg ngày 06/3/2018 của Thủ tướng Chính phủ “về tiêu chí lựa chọn, công nhận người có uy tín và chính sách đối với người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số”, đưa ra một số tiêu chí xác định người có uy tín.
Theo đó, Người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số là người “được lựa chọn từ thôn, bản, xóm, buôn, làng, phum, sóc, tổ dân phố và tương đương (gọi chung là thôn)”[13], “Người có uy tín là người nắm vững và thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các quy định của địa phương nơi cư trú và thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân; bản thân và gia đình gương mẫu, có đóng góp tích cực đối với cộng đồng; am hiểu về văn hóa, phong tục, tập quán, tiếng nói của dân tộc ở nơi cư trú; có cách ứng xử, giải quyết tốt mối quan hệ trong gia đình, cộng đồng; là người tiêu biểu, có mối liên hệ chặt chẽ, có ảnh hưởng lớn và khả năng tập hợp đồng bào dân tộc ở những phạm vi nhất định, được người dân trong cộng đồng tín nhiệm, tin tưởng, nghe và làm theo”[14]. Ngoài ra, “Bản thân và gia đình người có uy tín phải nắm vững, gương mẫu thực hiện và tích cực tuyên truyền, giải thích, vận động đồng bào các dân tộc trên địa bàn thực hiện các chủ trương, đường lối của 11 Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định của địa phương; chủ động nắm tình hình dư luận xã hội, đời sống, sản xuất, tâm tư, nguyện vọng của đồng bào các dân tộc, phản ánh kịp thời về các cơ quan chức năng có liên quan; tham gia ngăn ngừa, hòa giải các mâu thuẫn, tranh chấp trong nội bộ nhân dân, góp phần giữ gìn an ninh, trật tự ở địa phương; tích cực hưởng ứng, ủng hộ, tham gia xây dựng nông thôn mới và các cuộc vận động, phong trào thi đua tại địa phương [14]. Trong phạm vi bài luận văn này, tác giả tập trung phân tích và làm rõ hình ảnh người có uy tín dựa dựa trên 06 đặc điểm: (1) già làng, (2) trưởng bản, (3) người từng công tác lãnh đạo từ cấp xã trở lên, (4) người am hiểu cộng đồng; (5) tri thức trẻ; (6) người có chức sắc tôn giáo. Đó là những người thực hiện tốt một hay nhiều (05) năm các vai trò sau: (1) nắm vững, gương mẫu thực hiện và tích cực tuyên truyền, giải thích, vận động đồng bào các dân tộc trên địa bàn thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định của địa phương (vai trò dân vận – dân nguyện); (2) chủ động nắm tình hình dư luận xã hội, đời sống, sản xuất, tâm tư, nguyện vọng của đồng bào các dân tộc, phản ánh kịp thời về các cơ quan chức năng có liên quan (vai trò bảo tồn, phát huy văn hóa – giáo dục); (3) tham gia ngăn ngừa, hòa giải các mâu thuẫn, tranh chấp trong nội bộ nhân dân, góp phần giữ gìn an ninh, trật tự ở địa phương (vai trò đảm bảo trật tự xã hội – an ninh quốc phòng); (4) tích cực hưởng ứng, ủng hộ, tham gia xây dựng nông thôn mới và các cuộc vận động, phong trào thi đua tại địa phương (vai trò xây dựng kết cấu hạ tầng địa phương) và (5) tích cực phát tiển kinh tế địa phương.
Trong phạm vi luận văn này, tác giả tập trung thể hiện người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số trên Báo Dân tộc và phát triển online là người có vai trò quan trọng, là cầu nối trong việc vận động, tuyên truyền, giải thích cho người dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và pháp luật, đồng thời cũng là người giải quyết mâu thuẫn của cộng 12 đồng người đồng bào dân tộc thiểu số. góp phần giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Tiêu chí lựa chọn, đối tượng lựa chọn và điều kiện bình chọn người có uy tín Như đã trình bày ở trên, người có uy tín là người có vai trò quan trọng, là cầu nối giữa chính sách của Đảng, chủ trương của Nhà nước, quy định của địa phương đến cộng đồng dân cư. Do đó, người có uy tín cũng có những tiêu chí nhất định khi lựa chọn.
Theo Khoản 1, Điều 4, Quyết định số 12/2018/QĐ-TTg ngày 06/3/2018 của Thủ tướng Chính phủ “về tiêu chí lựa chọn, công nhận người có uy tín và chính sách đối với người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số” quy định về tiêu chí lựa chọn người có uy tín, cụ thể: “a) Là công dân Việt Nam, không phân biệt thành phần dân tộc, cư trú hợp pháp tại Việt Nam; b) Bản thân và gia đình gương mẫu chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định của địa phương; c) Là người tiêu biểu, có nhiều công lao, đóng góp trong các phong trào thi đua yêu nước, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ an ninh trật tự, giữ gìn bản sắc văn hóa và đoàn kết các dân tộc; d) Hiểu biết về văn hóa truyền thống, phong tục, tập quán dân tộc; có mối liên hệ chặt chẽ và có ảnh hưởng trong dòng họ, dân tộc và cộng đồng dân cư; đ) Có khả năng quy tụ, tập hợp đồng bào dân tộc thiểu số trong phạm vi nhất định bằng lời nói, qua việc làm, được người dân trong cộng đồng tín nhiệm, tin tưởng, nghe và làm theo” [13]. Theo Khoản 2, Điều 4, Quyết định số 12/2018/QĐ-TTg ngày 06/3/2018 của Thủ tướng Chính phủ “về tiêu chí lựa chọn, công nhận người có uy tín và 13 chính sách đối với người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số” quy định về đối tượng lựa chọn người có uy tín, cụ thể: “Người có uy tín được lựa chọn từ các đối tượng sau: a) Cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang theo quy định của pháp luật hiện hành có quá trình công tác lâu năm, có cống hiến cho dân tộc, đất nước đã nghỉ công tác; b) Già làng, trưởng thôn, trưởng dòng họ hoặc những người thường được đồng bào dân tộc thiểu số mời thực hiện các nghi lễ cầu cúng cho gia đình, dòng họ, bản làng; c) Chức sắc, chức việc trong các tôn giáo ở vùng dân tộc thiểu số (Phật giáo, Hồi giáo, Tin lành, Công giáo,.); d) Nhân sỹ, trí thức, doanh nhân, nhà giáo, người hành nghề chữa bệnh giỏi hoặc người có Điều kiện kinh tế thường giúp đỡ và được đồng bào tín nhiệm” [13]. Trong phạm vi luận văn này, tác giả tập trung tìm hiểu (62 bài viết từ tháng 06 – 09/2019 trên Báo Dân tộc và phát triển online) về người có uy tín trong cộng đồng dân tộc thiểu số là tập thể (chiếm 64.5%) và cá nhân (chiếm 35.5%) trên ba (03) miền của Tổ quốc và cả ở nước ngoài chiếm tỷ lệ lần lượt là miền Bắc (37%), miền Trung (43.1%) và nước ngoài (3.2%) với độ tuổi khác nhau, được tác giả chia làm ba (03) mức, từ 30-40 tuổi (10.3%) và trên 60 tuổi (43. Như vậy, khi lựa chọn viết về người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, Báo Dân tộc và phát triển online đều căn cứ lựa chọn dựa trên 05 tiêu chí và thuộc 04 đối tượng nhằm đa dạng hóa hình ảnh về người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số.
Chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người có uy tín Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa bản sắc, có vị trí chiến lược quan trọng đối với khu vực Đông Nam Á nói riêng và trên thế giới nói chung. Việt Nam là một nhà nước pháp quyền xă hội chủ nghĩa, quản lư xă hội bằng 14 pháp luật và luôn đề cao vai trò của pháp luật. Nhưng để quản lý xã hội được hiệu quả, Đảng và Nhà nước ta lại có sự kết hợp tương đối hiệu quả giữa pháp luật với hệ thống các thiết chế xã hội, phong tục, tập quán. Mặc dù những quy phạm xã hội ấy không mang tính chất răn đe, cưỡng chế cao như các quy phạm pháp luật, song lại trực tiếp điều tiết mọi hành vi của con người bởi sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cưỡng chế với tự nguyện, xử phạt với giáo dục, răn đe với thuyết phục.
Các quy phạm xã hội hình thành từ lâu đời, là sợi dây “ràng buộc hành vi của con người”, thường có hiệu lực cao và được các thành viên trong cộng đồng tin tưởng. Thực tiễn đã chứng minh, ngay từ thời kỳ phong kiến, các bộ luật lớn như Hình thư triều Lý, Hình thư triều Trần, Quốc triều Hình luật triều Lê và Hoàng triều luật lệ nhà Nguyễn mặc dù giá trị pháp lý khác nhau nhưng đều được xây dựng trên một cơ sở nền tảng pháp lý có tính cơ bản của cộng đồng người Việt là phong tục, tập quán, được phát triển thành hương ước hoặc luật tục của làng, xã. Chẳng hạn như: Trong Điều 40, Quốc triều Hình luật ghi rõ: “Những người miền thượng du (miền núi, miền đồng bào dân tộc ít người cư trú) cùng phạm tội với nhau thì theo phong tục của xứ ấy mà định tội. Những người miền thượng du phạm tội với người trung châu (miền trung du và miền đồng bằng) thì theo luật mà định tội”.
Theo quy định này, việc áp dụng các phong tục, tập quán làm cho các điều khoản của bộ luật phù hợp, sáng tạo và sát với thực tế đời sống, dễ hiểu, dễ thực hiện hơn, có tính khả thi cao hơn việc áp dụng những điều luật “cứng nhắc” vào cuộc sống.