Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Trên Thế Giới 1. Phân loại và phân bố của các loài Hồi Cây Hồi (Illicium verum Hook.) còn được gọi là Hồi hương, Đại Hồi hương, Đại liệu v. cây Hồi nguyên sản có ở Quảng Tây và khu vực Tây Nam Trung Quốc.
Từ xưa trong tác phẩm nổi tiếng của Tôn Tư Mạo đời nhà Đường đã chép: "Cho một ít hoa Hồi vào thịt lợn sẽ hết mùi hôi, ngào ngạt mùi thơm của hoa Hồi". Điều đó chứng tỏ cây Hồi ở Trung Quốc đã có lịch sử hàng ngàn năm (Lục Thuận Trung và cộng sự, 2008) [25]. Trong "Quế Hải Du hằng chí" của Phạm Thành Đại đời Nam Tống (1172), "Bản thảo cương mục" của Lý Thời Trân đời nhà Minh, "Thượng lâm huyện chí" năm Quang Tự thứ 10 đời nhà Thanh (1884), "Thiên đẳng huyện chí" năm Quang Tự thứ 24 đời nhà Thanh (1898) v. cũng đã có ghi chép về cây Hồi và việc dùng quả Hồi trong chế biến thực phẩm (Mã Cẩm Lâm, 2009) [11].
Đầu năm 80 của thế kỷ XX, Viện khoa học kỹ thuật Lâm Nghiệp của Quảng Tây (Trung Quốc) đã đi sâu điều tra nguồn tài nguyên Hồi và lấy kết quả điều tra tài nguyên này làm căn cứ phân loại chủ yếu kết hợp với đặc trưng hình thái của hoa, quả, cành và dáng cây, chia Hồi thành 4 nhóm, 17 loài (Mã Cẩm Lâm, 2009) [11] bao gồm: (1) Nhóm Hồi hoa đỏ (hồng hoa) có 9 loài gồm: Hồi đỏ cành mềm, Hồi hoa đỏ phổ thông, Hồi hoa đỏ nhiều cánh, Hồi hoa đỏ quả to, Hồi hoa đỏ mỏ chim ưng, Hồi hoa đỏ lá dầy, Hồi hoa đỏ quả nhỏ, Hồi hoa đỏ nhụy đỏ, Hồi hoa đỏ cây lùn. (2) Nhóm Hồi hoa phớt hồng có 4 loài, gồm: Hồi hoa phớt hồng cành mềm, Hồi hoa phớt hồng phổ thông, Hồi hoa phớt hồng nhiều cánh và Hồi hoa phớt hồng lá dầy. 5 (3) Nhóm Hồi hoa trắng có 3 loài, gồm: Hồi hoa trắng cành mềm, Hồi hoa trắng phổ thông và Hồi hoa trắng nhiều cánh. (4) Nhóm Hồi hoa vàng có 1 loài.
Ngay từ năm 1980, người Mỹ đã phát hiện ra 7 loài Hồi, trong đó 2 loài được tìm thấy trên bờ biển Bắc Mỹ thuộc Đại Tây Dương, 2 loài ở Hindostan và 3 loài còn lại được tìm thấy ở Trung Quốc và Nhật Bản. Hầu hết các loài này đều có mùi thơm và hương vị đặc trưng. Ngày nay, người ta đã phát hiện trong chi Hồi (Illicium) có khoảng trên 40 loài, phân bố chủ yếu ở các nước Đông Nam Á, Đông Á và Bắc Mỹ. Riêng các tỉnh phía Nam và Tây Nam Trung Quốc đã xác định được 21 loài.
Cây Hồi được người Nhật gọi là quả “Shikimmi” hoặc “Skimmi”, gần đây phát hiện loài Hồi Illicium religiosum Sieb.et Zucc được trồng nhiều ở trước các cổng đền thờ phật giáo ở Nhật Bản, chúng là loài Hồi độc, có các đại nhỏ, không có mùi thơm của transanethole nhưng lại có mùi Sassafras (Ninh Khắc Bản, 2008) [1] bao gồm: * Hồi Illicium floridanum Ell được trồng rất nhiều ở phía Tây dọc theo bờ biển từ Floria đến vịnh Mêhicô. * Hồi Illcium parvflorum Vent (I.aniastum Bartr) là loài cây bụi thấp được tìm thấy ở trên những vùng đất dốc ở Georgia và Carolia, tinh dầu có mùi gần giống mùi cây Long não. * Hồi Illicum griffithii var Hook.Thoms (hay thường gọi là Hồi núi, đại Hồi núi) là loài cây thuộc vùng Viễn Đông phân bố ở vùng Đông Dương, Mã Lai. Quả Hồi núi chứa độc tố nhiều, tinh dầu có vị chát, thơm và có pha mùi của ớt và hồ tiêu.
* Hồi Illicium henryi Diel chỉ phân bố ở Quý Châu, Tứ Xuyên, Giang Tây, Hồ Bắc, Hồ Nam, Thiểm Tây (Trung Quốc), đây là loài cây gỗ nhỏ, quả thường có 8 đại, nhưng nhỏ hơn so với cây Đại Hồi (Illicium verum). Một số thành tựu nghiên cứu và sản xuất về cây Hồi Hàng nghìn năm về trước, cây Hồi được con người biết đến và khai thác, sử dụng phổ biến trong các thang thuốc Đông y, hoặc làm gia vị, thậm chí chúng còn là thành phần trong mỹ phẩm. Đặc biệt ngày nay, các nhà khoa học đã phát hiện chất acid Shikhmic có trong quả Hồi, là thành phần quan trọng bào chế thuốc Tamiflu để phòng chống đại dịch cúm gia cầm nguy hiểm trên toàn cầu do virus H5N1 gây ra. Do đặc thù vùng sinh thái của cây Hồi phân bố hẹp, nên những kết quả nghiên cứu khoa học về cây Hồi trên thế giới không nhiều, tập trung chủ yếu ở Trung Quốc.
Bắt đầu từ năm 1990, ngành Lâm nghiệp Quảng Tây đầu tư trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc, thúc đẩy mạnh mẽ việc trồng rừng Hồi có hiệu quả kinh tế cao Mã Cẩm Lâm, Lý Khai Tường (2006) [10]. Đến cuối năm 2006, diện tích trồng Hồi ở Quảng Tây chiếm 365.000 ha, năm thu hoạch cao nhất (2003) sản lượng quả Hồi khô đạt 87.000 tấn, giá trị kinh tế đạt 900 triệu Nhân dân tệ. Ở khu vực nông thôn, cây Hồi đã trở thành nguồn thu nhập chính của nhân dân. Quảng Tây là nơi sản xuất ra Hồi, không những kế thừa được sự phát triển cây Hồi, mà qua quá trình phát triển của lịch sử và dựa vào khoa học kỹ thuật, việc trồng Hồi ở các khu vực của toàn khu tự trị đã được phát triển thêm một bước, làm cho diện tích trồng Hồi không ngừng được mở rộng, sản lượng không ngừng được nâng cao Mã Cẩm Lâm, Lý Khai Tường (2009) [11].
Mã Cẩm Lâm, Lý Khai Tường (2006) [10] thuộc Viện Lâm nghiệp Quảng Tây (Trung Quốc) đã nghiên cứu về kỹ thuật ghép cây Hồi, kết quả cho thấy thời gian ghép thích hợp vào trung tuần tháng giêng đến thượng tuần tháng 3. Lựa chọn cây Hồi trưởng thành, quả to, cánh đều hoàn chỉnh, sản lượng cao và ổn định (15 năm trở lên) để lấy vật liệu ghép, cắt cành ngoài phạm vi lão hoá phần giữa trở lên của cây làm cành ghép, cành to khoẻ, mắt mầm bao tròn, không có sâu bệnh hại, sinh trưởng đều từ 1-3 năm. Kỹ thuật ghép chủ yếu bằng phương pháp mổ và ghép áp. Một cây chính ghép 2 nhánh là vừa, nhiều nhất không vượt quá 3 nhánh.
7 Tăng Tường Diễm và Lý Kiến Lâm (2007) [8] đã nghiên cứu kỹ thuật chuẩn đoán dinh dưỡng hình thái cây Hồi, tác giả đã phán đoán tình trạng dinh dưỡng của cây thông qua miêu tả về chuẩn đoán tình trạng bệnh mất 11 nguyên tố dinh dưỡng của cây Hồi. Đồng thời tiến hành giải thích và phân tích các loại bệnh đã từng xuất hiện, để những người kinh doanh trồng Hồi có thể hiểu sơ bộ và nắm vững tình hình thiếu hay thừa dinh dưỡng ở bộ phận nào đó của cây làm cơ sở điều chỉnh loại phân, phương pháp bón phân, lượng phân phù hợp với từng giai đoạn phát triển của cây Hồi, để hàm lượng dinh dưỡng của cây được duy trì một cách tốt nhất, nâng cao khả năng quản lý dinh dưỡng, thúc đẩy Hồi phát triển nhanh, sản lượng nhiều. Lục Thuận Trung và cộng sự (2008) [25] đã nghiên cứu thành công và hiện đang ứng dụng công nghệ tách anethole có độ thuần khiết cao từ quả Hồi. Điều kiện công nghệ tốt nhất của việc tách anethole từ dầu Hồi bằng phương pháp kết tinh đông lạnh và tách ly tâm với điều kiện là nhiệt độ kết tinh ở 50C, thời gian kết tinh là 20 giờ, độ vỡ nát tinh thể là 20, kết quả cho độ thuần khiết của anethole đạt 96,4%; Công nghệ tốt nhất để tiến hành tinh chất anethole dạng sơ chế là phương pháp kết tinh đông lạnh trong điều kiện: Tỷ lệ hồi lưu là 10:7, nhiệt độ của nồi tinh cất là 1400C, độ chân không là 5 mmHg.
Cuối cùng, kết quả thu được có độ thuần khiết của anethole đạt 99,8%. Anethole được dùng rộng rãi trong chế biến thực phẩm, dược liệu, đồ dùng hàng ngày, thuốc thú y, thức ăn gia súc. Phân loại và phân bố các loài Hồi Ở Việt Nam đã phát hiện được 16 loài Hồi, trừ loài I. verum chỉ gặp trong rừng trồng nhân tạo, các loài còn lại ở dạng hoang dại và thường sinh trưởng tự nhiên trong rừng nguyên sinh, đôi khi cả rừng thứ sinh ở khắp các tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung và Tây nguyên.
Tất cả các loài Hồi ở Việt Nam đều thuộc dạng cây gỗ nhỏ hoặc trung bình. Tại Việt Nam, hiện đã ghi nhận có các loài Hồi hoang dại dưới đây: 1. Cambodianum Hance, tên địa phương gọi là Hồi Cambốt, phân bố tại các tỉnh Lâm Đồng, Khánh Hoà; 2.I Grifithii) thường gọi là Hồi núi đá vôi, phân bố ở các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hoà Bình, Ninh Bình; 3. henryi Diels, thường gọi là Hồi Henry, phân bố ở Phanxipan của tỉnh Lào Cai; 4.
Smith, địa phương còn gọi là Hồi Hương sơn, phân bố ở huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh; 5. Smith thường gọi là Hồi lá nhẵn, phân bố ở các tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên; 6. Smith có tên khác là Hồi hoa to, phân bố ở huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai; 7. Fargersii Franch, địa phương thường gọi là Hồi Phác, phân bố ở Phanxipan, Sa Pa tỉnh Lào Cai; 8.et Thoms, thường gọi là Đại hồi, phân bố ở Phanxipan thuộc tỉnh Lào Cai; 9.
Smith, địa phương thường gọi là Hồi lá dầy, phân bố ở 2 huyện Đồng Văn và Phó Bảng thuộc tỉnh Hà Giang; 10. Parviflorum Merr thường gọi là Hồi lá nhỏ, phân bố chỉ gặp tại Bạch Mã tỉnh Thừa Thiên - Huế và Bà Nà tỉnh Đà Nẵng; 11. Smith còn có tên là Hồi bán đảo phân bố các tỉnh Yên Bái, Kom Tum; 9 12. Smith có tên gọi khác là Hồi Petelot, phân bố ở các tỉnh Lai Châu, Lào Cai; 13.
Simonsii Maxim hay còn gọi là Hồi Simons, phân bố ở huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai; 14. Smith thường gọi là Hồi lá mỏng, phân bố ở các tỉnh Nghệ An, Gia Lai, Lâm Đồng, Khánh Hoà; 15. Smith hay còn gọi là Hồi chè, phân bố ở huyện Sông Mã, Sốp Cộp tỉnh Sơn La; 16. Smith tên địa phương gọi là Hồi Tsai, phân bố ở Lào Cai (Phanxipan).
Cây Hồi được trồng tại Mường Khương có tên khoa học là (Illicium verum Hook.) thuộc họ Hồi (Illiciaceae), còn được gọi bằng các tên khác như: Hồi sao, Đại hồi hương, Bát giác hương, Mắc hồi (tiếng Tày), Mắc chác; tên thương phẩm: Chinese star anise, Star anise, Anise oil. Loài Hồi (Ilicum verum Hook.) là một taxon tương đối nguyên thuỷ thuộc họ Hồi (Iliiciaceae) với đặc điểm điển hình là cây gỗ lớn hoặc trung bình, bao hoa chưa phân hoá thành đài và tràng, tồn tại dưới dạng các mảnh bao hoa. Quả nhiều lá noãn, rời, chỉ hợp ở phần gốc tạo thành quả có nhiều đại (cánh quả).