CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ CỦA ĐỊA PHƯƠNG. Cơ cấu ngành kinh tế. Khái niệm về cơ cấu ngành kinh tế. Theo Ngô Thắng Lợi (2013) thì định nghĩa cơ cấu ngành kinh tế là: “ Cơ cấu ngành kinh tế thể hiện quan hệ cả mặt định lượng và định tính giữa các ngành trong nền kinh tế.
Mặt định lượng chính là quy mô và tỷ trọng về sản lượng, lao động, vốn của mỗi ngành trong tổng thể kinh tế quốc dân. Mặt định tính thể hiện vị trí và vai trò (tiền đề, hỗ trợ, thúc đẩy,…) của mỗi ngành trong hệ thống kinh tế quốc dân.” Vậy tóm lại ở đề tài nghiên cứu này ta sẽ tiếp cận đối tượng nghiên cứu trên cơ sở khái niệm sau. Cơ cấu ngành kinh tế là mối quan hệ qua lại giữa các ngành trong tổng thể nền kinh tế và các ngành nhỏ hơn trong nội bộ từng ngành. Mối quan hệ này tác động lẫn nhau cả về số lượng lẫn chất lượng và nó được hình thành trong từng điều kiện kinh tế nhất định, luôn luôn thay đổi và hướng đến các mục tiêu cụ thể.
Cụ thể hơn ta sẽ hiểu CCNKT là: - Thứ nhất, số lượng các ngành kinh tế được hợp thành. Số lượng này luôn thay đổi được hoàn thiện liên tục theo quá trình phát triển và phân chia lao động trong xã hội. Theo quan điểm và thời gian có nhiều cách phân chia loại ngành kinh tế với nhau để thống nhất thì ở đề tài nghiên cứu này ta phân loại kinh tế thành 3 ngành chính là NN, công nghiệp và DV. Trong NN phân chia thành 3 ngành nghề chính là nông, lâm và ngư nghiệp; Công nghiệp chia thành 2 ngành nghề chính là CNKT và CNCB; DV bao gồm các ngành DV.
- Thứ hai là mối quan hệ tác động qua lại giữa các ngành với nhau. Sự tác động này bao gồm cả về số và chất lượng các ngành. Đại diện cho mặt số lượng là tỷ trọng về GDP, về lao động, về vốn,… của mỗi ngành trên tổng thể toàn bộ nền kinh tế còn ở mặt chất lượng là về tầm quan trọng, vị trí chiến lược và tính chất của từng ngành đến các ngành khác và ngược lại. Đặc điểm và vai trò của cơ cấu ngành kinh tế.
CCNKT thể hiện ở các tác động qua lại lẫn nhau trong mối liên kết giữa các ngành bao gồm cả về mặt chất lượng và số lượng. Mặt chất lượng là nói đến vị thế, tầm ảnh hưởng của mỗi ngành và các đặc điểm của sự ảnh hưởng qua lại từng 4 ngành với nhau.; về mặt số lượng phản ánh tỷ trọng, đóng góp của mỗi ngành trong toàn nền kinh tế. Các tác động quan lại lẫn nhau giữa các ngành có thể là gián tiếp (cấp 1,2,3,…) hoặc trực tiếp (cùng chiều và ngược chiều). Nhìn chung các tác động, ảnh hưởng của các ngành với nhau luôn không cố định và trở nên phức tạp hơn cùng với sự phân công lao động xã hội và phát triển của năng lực sản xuất cả trong và ngoài nước.
Cơ cấu ngành cũng có nét phân biệt rõ ràng ở các nước đang phát triển và phát triển. Như ở các nước đang phát triển tỷ trọng ngành NN chiếm tỷ trọng lớn thường là 20-30% tổng GDP còn ở các nước phát triển tỷ trọng NN chỉ chiếm khoảng 1-7%. Theo xu hướng phát triển thì tỷ trọng ngành NN có xu hướng đi xuống, ngược lại tỷ trọng các ngành CN và DV có xu hướng tăng. Tóm lại, có ba đặc điểm chính về cơ cấu ngành kinh tế sau: - Cơ cấu ngành phản ánh sự phát triển của lực lượng sản xuất; độ hiệu quả của phân công lao động và quan hện sản xuất; sự tiến bộ của KH-CN.
- Trình độ phát triển của quốc gia, lãnh thổ được phản ánh qua trạng thái cơ cấu ngành. - Các yếu tố bên trong, bên ngoài và lợi thế tương đối của nền kinh tế quốc dân là cơ sở cho việc CDCCN hợp lý với mục tiêu là sự tăng trưởng bền vững. Phân loại cơ cấu ngành kinh tế. Theo như nhà kinh tế học nổi tiếng người Anh- Colin Clark , ông đã phân chia toàn bộ hoạt động sản xuất nền kinh tế thành 3 ngành cơ bản sau: - Ngành I: các thành phẩm được tạo ra có bản chất, nguồn gốc từ tự nhiên.
- Ngành II: sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên làm nguyên liệu đầu vào rồi gia công, chế biến thành sản phẩm khác. - Ngành III: tạo ra những sản phẩm vô hình có giá trị về kinh tế.( ngành I và II là 2 ngành tạo ra các sản phẩm hữu hình) Như đã thống nhất ở mục định nghĩa cơ cấu ngành kinh tế ta đã phân chia tổng thể nền kinh tế thành 3 ngành chính là NN, công nghiệp và DV. - Ngành NN là ngành tạo cho con người những sản phẩm thiết yếu nhất mà cũng chỉ có NN mới tạo ra được những sản phẩm này. Nhìn chung thì ngành NN gồm 3 chủ thể chính NN thuần, lâm nghiệp và thủy hải sản.
- Ngành CN là ngành đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng và nhu cầu từ hoạt động kinh doanh bằng cách “ chế tạo, chế biến” để tạo ra các sản phẩm có công dụng chuyên biệt. Đặc biệt các tiến bộ KH-CN có tác động to lớn trong việc thúc đầy 5 phát triển mạnh mẽ trong sản xuất của công nghiệp. Trong nội bộ ngành CN thì ta chia thành công nghiệp và xây dựng. - Ngành DV là ngành mang những hoạt động kinh doanh tạo ra giá trị về kinh tế và xã hội mà không thuộc lĩnh vực NN và công nghiệp.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế ngành DV có mối quan hệ mật thiết và gắn liền với sự đổi mới của nền kinh tế. Về cơ bản ngành DV được chia làm 3 thành phần chính là: DV kinh doanh, DV tiêu dùng và DV công. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Khái niệm về sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Định nghĩa CCNKT “ Cơ cấu ngành kinh tế là một phạm trù động, nó luôn luôn thay đổi theo từng thời kì phát triển bởi các yếu tố hợp thành cơ cấu không cố định. Quá trình thay đổi của cơ cấu ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp với môi trường và điều kiện phát triển gọi là sự CDCCNKT.” (Ngô Thắng Lợi, năm 2013) Ngoài ra, ta có thể hiểu CDCCNKT là sự thay đổi có định hướng, mục đích dựa trên các phân tích, đánh giá các cơ sở lý luận thực tiễn đi đôi với việc áp dụng đồng thời các biện pháp cần thiết để CDCCN từ trạng thái qua sang trạng thái khác hiệu quả và phù hợp hơn. Vốn, lao động và các nguồn lực kinh tế được phân bổ vào ngành nào, quy mô ra sao, được sử dụng thế nào đều có tác động đáng kể đến sự phát triển của riêng từng ngành và toàn bộ nền kinh tế. Tóm lại, ở đề tài này ta sẽ tiếp cận vấn đề CDCCNKT theo cơ sở lý thuyết sau.
Sự CDCCNKT là sự thay đổi đi đôi với sự phát triển ngày càng cao của sự phân công lao động xã hội và lực lượng sản xuất ở các ngành làm dịch chuyển vị thế, mối liên hệ qua lại và tỷ trọng của các ngành đó. Cơ sở cho sự CDCCN chính là sự cải tiến của cơ cấu ngành cũ hiện đang kém hiệu quả, không phù hợp với nhu cầu phát triển đổi mới của nền kinh tế bắt kịp xu thế hiện đại và phù hợp hơn so với xu thế mới. Và nội dung CDCCNKT thể hiện ở 3 sự thay đổi chính sau: - Sự thay đổi tỷ trọng từng ngành. - Sự thay đổi vị trí từng ngành.
- Sự thay đổi trong chính nội bộ của mỗi ngành. Vai trò của chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong quá trình phát triển nền kinh tế. CDCCNKT góp phần đẩy mạnh quá trình phát triển KT- XH.Việc CDCCNKT thích hợp đóng vai trò quan trọng trong việc tận dụng và phát huy các nguồn lực sẵn có của mỗi địa phương, mỗi quốc gia lãnh thổ như: ưu thế về vị trí địa lý, về chính trị, về tài nguyên- khoáng sản,… Việc phát triển bền vững phụ thuộc rất lớn vào việc phân bổ các nguồn lực một cách hợp lý trong quá trình CDCCNKT. CDCCNKT theo hướng tăng dần tỷ trọng khối ngành DV và công nghiệp, đồng thời giảm dần tỷ trọng khối ngành NN sẽ là hướng đi hợp lý với mục tiêu đẩy mạnh phát triển kinh tế.
Bắt nhịp cùng quá trình hội nhập của thị trường việc CDCCNKT đã góp phần tạo ra các mũi nhọn kinh tế dựa trên việc tận dụng các lợi thế nội hàm của địa phương giúp tăng tính cạnh tranh của các sản phẩm đem lại sự phát triển kinh tế vững chắc cho chính địa phương, lãnh thổ đó. CDCCNKT là một trong những giải pháp giúp giải quyết vấn đề mất cân bằng trong phát triển KT- XH. CDCCNKT một cách hợp lý là tác động đáng kể đến quá trình phân bố lại các nguồn lực, phân chia nguồn lao động thích hợp và mang lại hiệu quả hơn trong quá trình phát triển KT- XH. Trong quá trinh phát triển KT- XH, ở mọi nước hay địa phương đều có những thế mạnh và yếu đặc trưng riêng do đó việc phân bổ các nguồn lực bất cân đối là không thể tránh khỏi.
Chính vì thế đảm bảo việc phân chia các nguồn lực một cách hợp lý sẽ là điều cấp thiết cần giải quyết để giảm thiểu sự bất bình đẳng trong xã hội giữa các ngành nghề, lãnh thổ. Hoạch định một chiến lược CDCCNKT hài hòa sẽ là một giải pháp tốt cho vấn đề này. CDCCNKT sẽ cơ cấu lại vốn đầu tư và làm biến đổi cơ cấu các loại hình doanh nghiệp. Các nguồn vốn đầu tư cho các ngành kinh tế sẽ thay đổi theo sự CDCCNKT.
Việc đầu tư cho các cơ sở hạ tầng, ngành giáo dục- đào tạo, các vấn đề của xã hội và thúc đẩy nghiên cứu khoa học sẽ được chú trọng hơn. Việc CDCCNKT hợp lý sẽ tạo tiền để cho các vốn đầu tư này được hoạt động một cách thuận lợi giúp thúc đẩy cải thiện chất lượng cuộc sống của con người. Các loại hình kinh doanh với trình độ công nghệ hiện đại đem lại năng suất và hiệu quả kinh tế cao hơn sẽ tăng dần tỷ trọng trong nền kinh tế giúp quá trình phát triển kinh tế diễn ra nhanh hơn và bền vững hơn. 7 CDCCNKT là cách thức hữu dụng để giảm thiểu dãn cách phát triển KT- XH với các quốc gia đi trước.