CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ 1. Khái niệm dịch vụ và dịch vụ cho thuê văn phòng 1. Khái niệm dịch vụ Khác với khái niệm về sản phẩm, là nói về một vật thể hay là một quá trình cung cấp giá trị cho khách hàng; hàng hóa hay dịch vụ là nói đến phạm trù mô tả hình thái của sản phẩm. Có rất nhiều khái niệm về dịch vụ, nhưng tựu trung chúng ta có thể xem xét các khái niệm phổ quát sau: Dịch vụ là một ngành kinh tế mà kết quả hoạt động sản xuất không đem lại sản phẩm vật chất hữu hình, nhưng đem lại lợi ích có giá trị kinh tế, quá trình sản xuất và tiêu thụ xảy ra đồng thời và không có khả năng lưu trữ (Zeithaml và cộng sự 1996).
Dịch vụ là một hoạt động vô hình, không thể dự trữ, được thực hiện cho khách hàng trong vai trò là người đồng sản xuất (James Fitzsimmoms). Khái niệm dịch vụ luôn được phát triển theo thời gian và có những đặc điểm gắn liền như sau (Parasuraman & công sự 1985): - Tính vô hình: Dịch vụ không thể tồn tại dưới dạng vật thể, dịch vụ không thể dễ dàng có được bằng phát minh sáng chế, dịch vụ không thể dễ dàng trưng bày và thông điệp, định giá dịch vụ rất khó khăn. - Tính không đồng nhất: Chuyển giao dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng phụ thuộc vào nhân viên và hành động của khách hàng, chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào nhiều yếu tố không kiểm soát được, không thể chắc chắn rằng các dịch vụ cung cấp phù hợp hoàn toàn với những gì đã công bố. - Tính không thể tách rời: Khách hàng tham gia và ảnh hưởng đến chất lượng, khách hàng ảnh hưởng lẫn nhau, nhân viên ảnh hưởng đến kết quả dịch vụ, phân cấp quản lý là cần thiết, sản xuất hàng loạt là khó khăn.
- Tính không thể dự trữ: Rất khó để cân bằng cung và cầu dịch vụ, dịch vụ không thể trả lại hoặc bán lại. 7 Việc phân loại dịch vụ có thể đơn giản theo phương pháp loại trừ, xem dịch vụ là phần còn lại của nền kinh tế sau khi loại trừ ngành nông nghiệp, sản xuất chế tạo và khai khoáng; hoặc phân loại theo phương pháp liệt kê cụ thể từng ngành dịch vụ; hoặc theo cách phân loại của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), dịch vụ được phân thành 155 phân ngành thuộc 12 nhóm và nhóm cuối cùng gồm những dịch vụ chưa được đề cập trong 11 ngành trước nó, cụ thể: - Dịch vụ kinh doanh: gồm dịch vụ nghề nghiệp, dịch vụ kinh doanh bất động sản, cho thuê, liên quan đến chuyên môn như luật sư, tư vấn,… - Dịch vụ thông tin, liên lạc: bưu điện, viễn thông, phát thanh truyền hình, chuyển phát nhanh,. - Dịch vụ xây dựng và kỹ thuật: gồm xây dựng công trình, nhà cửa, thiết kế, lắp đặt, hoàn thiện công trình,… - Dịch vụ phân phối: dịch vụ bán buôn, bán lẻ, nhượng quyền,… - Dịch vụ giáo dục: giáo dục tiểu học, trung học, đại học, sau đại học, đào tạo khác,… - Dịch vụ môi trường: vệ sinh, thoát nước, xử lý chất thải, trồng cây xanh,… - Dịch vụ tài chính: ngân hàng, bảo hiểm, tài chính và các dịch vụ tài chính khác,… - Dịch vụ liên quan sức khỏe và xã hội: y tế, bệnh viện, dịch vụ xã hội,… - Dịch vụ du lịch và lữ hành: khách sạn, nhà hàng, du lịch,… - Dịch vụ giải trí, văn hóa và thể thao: gồm giải trí, thể thao, hỗ trợ cho thể thao, bảo tàng, thư viện,… - Dịch vụ vận tải: vận tải đường bộ, đường sắt, hàng không, đường thủy nội địa, vận tải đa phương thức và các dịch vụ hỗ trợ,… - Các dịch vụ chưa được nêu ở trên. Khái niệm dịch vụ cho thuê văn phòng Theo Tổ chức Thương mại Thế giới như nêu trên thì dịch vụ cho thuê văn phòng được phân loại là dịch vụ kinh doanh thuần túy.
Trước hết chúng ta tìm hiểu các khái niệm liên quan văn phòng. 8 Văn phòng là thuật ngữ chỉ không gian làm việc, cụ thể là một khu vực, vị trí hoặc một phòng, toà nhà mà trong đó mọi người sẽ làm việc cùng nhau. Ngoài ra chúng ta còn có thể hiểu văn phòng là phòng làm việc của một cá nhân hoặc tập thể nào đó. Được bố trí, sắp xếp và cung cấp đầy đủ các cơ sở vật chất, trang thiết bị nhằm phục vụ cho công việc.
Có thể đó là nơi làm việc của một doanh nghiệp kinh doanh, có thể chỉ là một phần của doanh nghiệp thường gọi là văn phòng đại diện hoặc chi nhánh; có thể là nơi làm việc của một tổ chức, của cơ quan, đơn vị nhà nước hoặc các tổ chức phi chính phủ; vì doanh nghiệp là đối tượng sử dụng văn phòng chủ yếu nên sau đây luận văn gọi chung các đối tượng này là doanh nghiệp. Văn phòng được thiết lập khi doanh nghiệp thực hiện công tác đăng ký kinh doanh bằng địa chỉ cụ thể. Bên cạnh đó còn thực hiện thi công sửa chữa, trang trí và đưa vào sử dụng thì lúc đó chúng ta sẽ chính thức gọi đó là văn phòng của doanh nghiệp. Văn phòng làm việc truyền thống có chức năng chính như là nơi doanh nghiệp trực tiếp thực hiện các hoạt động làm việc hằng ngày, điều hành quản lý, tổ chức những cuộc hội họp, gặp gỡ khách hàng, đối tác, đó là những công tác mang tính chất đối nội; thực hiện các công tác bên ngoài như lễ tân, tiếp nhận thư từ, văn bản và thực hiện những công tác mang tính chất đối ngoại khác.
Tại văn phòng làm việc truyền thống, doanh nghiệp có thể tự do thiết kế, trang trí, sắp đặt riêng, đảm bảo không gian làm việc riêng tư và yên tĩnh. Hiện nay, ngoài văn phòng làm việc truyền thống còn có nhiều loại hình văn phòng ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội, có thể liệt kê như là văn phòng ảo, văn phòng chia sẻ hoặc không gian làm việc chung. Văn phòng ảo là loại hình văn phòng cho dùng chung địa chỉ để doanh nghiệp đăng ký kinh doanh, một hình thức văn phòng đại diện giao dịch mà trong đó mọi thông tin giao dịch đều được chuyển hướng về văn phòng giao dịch thực tế, thường không có chỗ ngồi làm việc và chỉ sử dụng một số tiện ích cơ bản của văn phòng như tiếp nhận bưu kiện, văn bản,.… loại hình này phù hợp với các cá nhân, doanh nghiệp kinh doanh nhỏ, khởi nghiệp. Văn phòng chia sẻ, không gian làm việc chung là nơi văn phòng được tổ chức linh 9 hoạt thành nhiều vị trí, không gian làm việc nhỏ đáp ứng đa dạng nhu cầu làm việc, từ một đến nhiều người cùng làm việc, từ việc thuê và sử dụng một hoặc nhiều tiện ích văn phòng; tiền thuê sẽ chia đều trên đầu người hoặc tính theo nhu cầu sử dụng thực tế, họ có thể đến từ các doanh nghiệp khác nhau, tự làm việc riêng và không có mối liên hệ với nhau; một doanh nghiệp có thể thuê văn phòng truyền thống hoặc thuê văn phòng chia sẻ và chia sẻ lại với các doanh nghiệp khác.
Mục tiêu chính của các loại hình văn phòng mới này là tiết kiệm chi phí và linh hoạt, là sự lựa chọn tốt cho các cá nhân tự kinh doanh, làm việc riêng tư, các ngành nghề không yêu cầu vị trí hoặc doanh nghiệp mới khởi nghiệp chưa cần văn phòng cụ thể. Với khái niệm và chức năng nêu trên của văn phòng, thì dịch vụ cho thuê văn phòng là dịch vụ cho thuê một bất động sản văn phòng được gọi là một toà nhà văn phòng (hay cao ốc hay building) cho doanh nghiệp thuê để kinh doanh và làm việc, có thể cho thuê một phần diện tích trên một sàn của tòa nhà, hoặc cho thuê cả sàn hay nhiều sàn cho một hoặc nhiều doanh nghiệp thuê để làm văn phòng. Khái niệm chất lượng dịch vụ và các mô hình đo lường chất lượng dịch vụ 1. Khái niệm chất lượng dịch vụ Dịch vụ có những nét đặc trưng riêng giúp chúng ta phân biệt giữa dịch vụ với hàng hóa hữu hình.
Các đặc điểm của dịch vụ bao gồm tính vô hình, không đồng nhất, không thể tách rời, không thể lưu trữ được (TS. Bùi Thanh Tráng & GS. Nguyễn Đông Phong). Các đặc điểm này không hoàn toàn giống nhau giữa các loại hình dịch vụ, có những dịch vụ tính vô hình cao và có những dịch vụ có tính hữu hình cao (TS.
Bùi Thanh Tráng & GS. Nguyễn Đông Phong). Chính vì mức độ thay đổi về tính vô hình và hữu hình mà dẫn đến khó đánh giá chất lượng dịch vụ, chất lượng dịch vụ là một khái niệm được quan tâm và tranh luận trong nhiều tài liệu nghiên cứu bởi những khó khăn trong định nghĩa và đo lường chất lượng dịch vụ không có sự đồng thuận chung (TS. Bùi Thanh Tráng & GS.
Nguyễn Đông Phong). Có nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng đưa ra khái niệm và đo lường chất lượng dịch vụ. Lehtinen (1982) cho rằng chất lượng dịch vụ phải được đánh giá trên hai khía cạnh, một là quá 10 trình cung cấp dịch vụ và hai là kết quả của dịch vụ (TS. Bùi Thanh Tráng & GS.
Nguyễn Đông Phong). Chất lượng dịch vụ liên quan đến năng lực của người cung ứng dịch vụ nhằm đáp ứng hay vượt qua những mong đợi của khách hàng (TS. Bùi Thanh Tráng & GS. Nguyễn Đông Phong).
Sự đo lường hiệu quả hoạt động chính là chất lượng dịch vụ được nhận thức. Khi nói đến chất lượng dịch vụ, chúng ta không thể không đề cập đến đóng góp to lớn của Parasuraman và các cộng sự là những người tiên phong về lĩnh vực này (TS. Bùi Thanh Tráng & GS. Nguyễn Đông Phong).
Parasuraman và cộng sự (1985) định nghĩa chất lượng dịch vụ là mức độ khác nhau giữa sự mong đợi của người tiêu dùng về dịch vụ và nhận thức của họ về kết quả của dịch vụ. Hay nói cách khác, chất lượng dịch vụ là sự khác biệt giữa chất lượng kỳ vọng bởi khách hàng với chất lượng họ cảm nhận thực tế được cung cấp. Nếu kỳ vọng cách biệt lớn so với kết quả thực hiện nghĩa là chất lượng cảm nhận thấp và khách hàng không hài lòng (TS. Bùi Thanh Tráng & GS.
Nguyễn Đông Phong). Song song, chất lượng dịch vụ được định nghĩa là năng lực của một tổ chức trong việc đáp ứng hoặc vượt quá mong đợi của khách hàng. Mong đợi của khách hàng đã được định nghĩa là sự mong ước hoặc mong muốn của người tiêu dùng hoặc những gì khách hàng cảm nhận một nhà cung cấp dịch vụ có thể mang lại (Gilmore, 2003).