phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục thì nội dung đề tài gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về tạo động lực làm việc ngƣời lao động Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu Chƣơng 4: Hàm ý chính sách và kiến nghị 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Nghiên cứu của Herzberg (1959) đã chỉ ra có 2 nhóm nhân tố ảnh hƣởng đến động lực làm việc là các nhân tố thúc đẩy và nhân tố duy trì. Một số biến đo lƣờng này đƣợc vận dụng vào trong nghiên cứu của tác giả. Theo đó, nhân tố tạo động lực đƣợc chia làm hai nhóm: nhóm nhân tố nội tại gồm bản chất công việc, cơ hội đào tạo và Luan van 4 thăng tiến và nhóm nhân tố bên ngoài gồm lƣơng, sự hỗ trợ của cấp trên và mối quan hệ với đồng nghiệp.
Brooks (2007) đã tiến hành nghiên cứu bằng cách phỏng vấn thông qua bảng câu hỏi gồm 53 biến quan sát đối với 181 ngƣời làm các công việc khác nhau trên khắp nƣớc Mỹ. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng việc kết hợp giữa hai yếu tố thiết lập mục tiêu và sự hài lòng trong công việc là cách tốt nhất để dự đoán động lực làm việc của nhân viên; các yếu tố ảnh hƣởng mạnh mẽ đến sự hài lòng của nhân viên bao gồm: đánh giá hiệu quả công việc, đào tạo, cấp trên, đóng góp vào tổ chức. Trong nghiên cứu của Teck-Hong và Waheed (2011) dựa trên lý thuyết hai nhân tố của Herzberg, hai tác giả đã đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến động lực làm việc để tiến hành cuộc khảo sát với nhân viên bán hàng tại Malaysia. Kết quả các phân tích đã chứng minh rằng biến động lực quan trọng nhất là điều kiện làm việc.
Sự công nhận là yếu tố đáng kể thứ hai, tiếp theo chính sách công ty và các yếu tố tài chính. Các bằng chứng kết luận rằng các nhân tố duy trì hiệu quả hơn nhân tố động viên trong việc tạo động lực cho nhân viên bán hàng. Marko Kukanja (2012) tiến hành nghiên cứu các yếu tố ảnh hƣởng đến động lực làm việc của các nhân viên trong ngành dịch vụ du lịch tại khu vực ven biển Piran của Slovenia. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng tiền lƣơng là yếu tố quan trọng nhất, tiếp theo là phúc lợi xã hội và thời gian làm việc linh hoạt; yếu tố đào tạo đƣợc đánh giá ít quan trọng nhất.
Shaemi Barzoki và các cộng sự (2012) đã tiến hành phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến động lực của nhân viên dựa trên thuyết của Herzberg. Các yếu tố ảnh hƣởng đến động lực làm việc của nhân viên mà tác giả đề xuất gồm 7 yếu tố: an toàn nghề nghiệp, chính sách của công ty, mối quan hệ với đồng nghiệp, giám sát và mối quan hệ với cấp trên, điều kiện làm việc, cuộc Luan van 5 sống cá nhân, tiền lƣơng và thƣởng. Kết quả cho thấy trong số các yếu tố thì tiền lƣơng và tiền công có ảnh hƣởng lớn nhất đến động lực làm việc của nhân viên. Theo ý kiến của họ, so sánh với các yếu tố khác thì cuộc sống cá nhân ảnh hƣởng ít nhất đến động lực của nhân viên.
Lƣu Thị Bích Ngọc, Lƣu Hoàng Mai và các tác giả khác (2013) dựa trên cơ sở lý thuyết hai nhân tố của Herzberg và mô hình của Teck-Hong và Waheed (2011) đã tiến hành nghiên cứu đối với 136 nhân viên ở các khách sạn 3-5 sao trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả thấy rằng có 4 nhân tố tác động nhiều đến động lực làm việc của nhân viên khách sạn theo mức độ quan trọng thấp dần, bao gồm: quan hệ với cấp trên, phát triển nghề nghiệp, điều kiện làm việc và bản chất công việc. Luan van 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 LÝ THUYẾT VỀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC 1. Khái niệm động lực làm việc Động lực làm việc ngày nay đã trở thành khái niệm phổ biến và đã đƣợc nhiều nhà khoa học nghiên cứu trong nhiều năm qua. Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về động lực làm việc đã đƣợc các nhà nghiên cứu công bố.
Động lực thúc đầy: ám chỉ những nổ lực cả bên trong lẫn bên ngoài của con ngƣời có tác dụng khơi dậy lòng nhiệt tình và sự kiên trì theo đuổi một các thức hành động đã xác định. Động lực làm việc là một động cơ có ý thức hay vô thức, khơi gợi và hƣớng hoạt động vào việc đạt mục tiêu nhƣ mong đợi. Hay nói các khác, động lực là việc sự khao khát và tự nguyện của ngƣời lao động để tăng cƣờng nổ lực nhằm hƣớng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức. Động lực làm việc thể hiện trên hai khía cạnh: - Mức độ nổ lực nhằm đạt đƣợc mục tiêu.
- Kết quả của mức độ thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Ngoài ra còn có một số khái niệm nƣớc ngoài về động lực làm việc nhƣ sau: Theo Vroom (1964) động lực là trạng thái hình thành khi ngƣời lao động kỳ vọng rằng họ sẽ nhận đƣợc kết quả, phần thƣởng nhƣ mong muốn nếu họ nỗ lực thực hiện công việc. Theo Mitchell (1982) động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình. Baron (1991) định nghĩa động lực là trạng thái mà ngƣời lao động Luan van 7 muốn hành động và lựa chọn để hành động nhằm đạt đƣợc thành công tại nơi làm việc.
Hơn nữa, động lực đƣợc giải thích nhƣ là năng lƣợng, khuyến khích thực hiện các hành vi liên quan đến công việc và ảnh hƣởng đến phong cách làm việc, sự chỉ đạo, cƣờng độ và thời gian. Theo Robbins (1993) Động lực là sự sẵn sàng để phát huy nỗ lực đạt mục tiêu cao nhất của tổ chức, với điều kiện là tổ chức phải có khả năng đáp ứng một số nhu cầu cá nhân. Bartol và Martin (1998) mô tả động lực nhƣ một sức mạnh củng cố hành vi, tác động đến hành vi và gây nên những xu hƣớng tiếp tục. Locke (2000) mô tả động lực nhƣ tạo thành bốn khái niệm quan trọng: nhu cầu, giá trị, mục tiêu và ý định và cảm xúc.
Crossman & Abou Zaki (2003) là những hành động khuyến khích nhƣ bản thân công việc, tiền lƣơng, sự thăng tiến, giám sát và mối quan hệ với đồng nghiệp có thể ảnh hƣởng đến thái độ, hành vi và xác định đƣợc mức độ đam mê, cam kết, sự tham gia, sự tập trung. Debarshi roy & Palas Sengupta (2005) động lực thƣờng đƣợc mô tả bao gồm các yếu tố bên trong và bên ngoài tác động lên con ngƣời và bắt đầu một hành vi cụ thể. Mullins (2007) Động lực có thể đƣợc định nghĩa nhƣ là một động lực bên trong có thể kích thích cá nhân nhằm đạt đƣợc mục tiêu để thực hiện một số nhu cầu hoặc mong đợi. Theo Mujah, Ruziana, Sigh and D’ Cruz (2011), động lực là khả năng của một cá nhân làm việc ham muốn làm việc một cách tự nguyện trên những việc mang lại cho họ sự hài lòng, phấn khích, thu hút và sai khiến.
Có hai loại động lực trong công việc, là động lực từ bên trong (nội tại) và động lực bên ngoài. Động lực bên trong là một hoạt động thỏa mãn mong muốn vốn có, cá nhân muốn làm việc để hiểu đƣợc khả năng của mình và tự Luan van 8 quyết trong công việc, muốn có thử thách trong công việc (Deci năm 1975; Warr, Cook, & Wall năm 1979; Amabile năm 1993). Trong khi đó, động lực bên ngoài đƣợc thúc đẩy bởi tất cả những yếu tố và nguồn từ bên ngoài nhằm kích thích hiệu quả làm việc của cá nhân. Các yếu tố bên ngoài có thể là phần thƣởng, khen thƣởng, phản hồi công việc, thời hạn hoàn thành công việc, yêu cầu công việc, hoạt động giám sát, lƣơng thƣởng và thăng tiến (Kluger & DeNisi năm 1996; Whang & Hancock, 1994).
Từ việc nghiên cứu các khái niệm trên, có thể tóm tắt khái niệm về động lực làm việc nhƣ sau: Động lực làm việc liên quan tới các thái độ hành vi của cá nhân. Nó bắt nguồn từ các nhu cầu nội tại khác nhau của cá nhân đó và thúc đẩy cá nhân hành động để thõa mãn nhu cầu này. Động lực làm việc cũng bao hàm năng lƣợng, mục tiêu, sự cố gắng, sự lựa chọn, sự kiên trì và sức lực cần thiết của cá nhân trong quá trình lựa chọn, định hƣớng, tự thể hiện, thay đổi, kháng cự và liên tục của hành vi. Mặt khác, động lực có thể thay đổi bởi nó không chỉ phụ thuộc vào đặc điểm, kiến thức, kỹ năng và khả năng của cá nhân mà vào các yếu tố bên ngoài nhƣ đặc điểm công việc, quan hệ xã hội, môi trƣờng kinh tế xã hội, đặc điểm của tố chức nơi cá nhân đó làm việc.
Ý n ĩ ủa việ nân o động lự o n ƣờ l o động Nâng cao động lực làm việc của nhân viên là chìa khoá để cải thiện kết quả làm việc. “Bạn có thể đƣa con ngựa ra tới tận bờ sông nhƣng không thể bắt nó uống nƣớc. Ngựa chỉ uống khi nó khát – và con ngƣời cũng vậy”. Con ngƣời chỉ làm việc khi ngƣời ta muốn hoặc đƣợc động viên để làm việc.
Cho dù là cố gắng tỏ ra nổi trội trong công việc hay thu mình trong tháp ngà, ngƣời ta cũng chỉ hành động do bị điều khiển hoặc đƣợc động viên bởi chính bản thân hay từ các yếu tố bên ngoài. Nói tóm lại việc xây dựng các hoạt động nâng cao động lực làm việc Luan van 9 trong công ty nhằm: nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty, tạo ra đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, tạo ra lợi thế cạnh tranh trong doanh nghiệp, và đạt đƣợc mục tiêu xã hội đó là: phát triển con ngƣời. Qua những nghiên cứu lý thuyết cũng nhƣ thực tiễn của các doanh nghiệp đã chỉ ra rằng động lực lao động là một trong những yếu tố có tác động không nhỏ đến hiệu quả lao động cũng nhƣ sự hoàn thành mục tiêu của tổ chức. Động lực lao động trƣớc hết sẽ có tác động trực tiếp đến tinh thần, thái độ làm việc và kết quả thực hiện công việc của ngƣời lao động, từ đó ảnh hƣởng gián tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng nhƣ sự thành công của doanh nghiệp.
Ngƣời lao động có động lực làm việc sẽ ý thức đƣợc công việc đang làm, có tinh thần làm việc hăng say, nhiệt tình, yêu công việc, coi việc hoàn thành mục tiêu của tổ chức cũng nhƣ là một bƣớc trên con đƣờng đạt đƣợc mục tiêu của mình.