MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay các nước trên thế giới cũng như tại Việt Nam đang rất quan tâm tìm hướng giải quyết cho những vấn đề quan trọng như khủng hoảng về năng lượng, các rủi ro về môi trường và đảm bảo an ninh lương thực. Đã có nhiều nước quan tâm phát triển nhiều loại cây trồng đảm bảo đáp ứng về lương thực, thực phẩm cho người và gia súc gia cầm, trong đó có nghiên cứu và phát triển cây dong riềng. Ở Việt Nam trong những năm gần đây nhiều địa phương đã tập trung chỉ đạo phát triển cây dong riềng và đem lại hiệu quả kinh tế cao, có nơi cây dong riềng đã góp phần xóa đói giảm nghèo như Bắc Kạn, Điện Biên, Quảng Ninh,… Cây dong riềng có tên khoa học là Canna edulis (indica), họ dong riềng (cannaceae) có nguồn gốc từ Nam mỹ và trồng ở nước ta từ đầu thế kỉ 19.
Dong riềng là cây trồng sinh trưởng, phát triển mạnh, có khả năng thích ứng rộng, trồng được trên nhiều loại đất, có khả năng chống chịu tốt với điều kiện bất thuận đặc biệt là chịu hạn, năng suất củ tươi có thể đạt từ 45 – 60 tấn/ha, hàm lượng tinh bột 13,36 – 16,4% (Nguyễn Thiếu Hùng và Cs, 2010)[6]. Do có hàm lượng tinh bột cao nên củ dong riềng thường được dùng để chế biến tinh bột, chăn nuôi gia súc đặc biệt được sử dụng để làm miến dong, bánh đa, bánh mì, bánh bao,…Ngoài ra, thân, lá còn dùng cho chăn nuôi gia súc góp phần tận dụng thúc đẩy chăn nuôi phát triển. Theo đánh giá người dân, dong riềng dễ trồng ít tốn công chăm sóc nên đem lại hiệu quả kinh tế cao. Một ha dong riềng cho doanh thu 80 – 100 triệu, trừ chi phí khoảng 20 – 25 triệu, người dân có thể lãi 60 – 80 triệu/ha (thu từ củ).
Cây dong riềng có thể trồng trên nhiều loại đất, ở điều kiện sinh thái khác nhau. Sự mất cân bằng dinh dưỡng trong đất ảnh hưởng xấu đến sinh n 2 trưởng của cây. Do có năng suất sinh khối lớn (đạt từ 40 – 70 tấn củ và 50 – 60 tấn lá/ha) nên hàng năm dong riềng lấy đi một lượng dinh dưỡng khá lớn. Năng suất dong riềng ngay càng tăng th́ nhu ầu c của phân bón cũng được tăng lên.
Trong những năm gần đây, diện tích trồng cây dong riềng ngày càng tăng nhưng năng suất vẫn còn thấp chưa ổn định, để tăng sản lượng dong riềng cho nhu cầu trong nước, chế biến xuất khẩu, bên cạnh việc mở rộng diện tích, sử dụng giống mới cho năng suất cao…. Việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật phù hợp là một yếu tố quan trọng làm tăng năng suất và hiệu quả kinh tế của dong riềng. Thực tế ở nhiều tỉnh miền núi dong riềng được trồng trên đất dốc mà không có biện pháp chống xói mòn, cùng với việc canh tác nhiều năm không sử dụng phân bón dẫn đến đất bị cạn kiệt dinh dưỡng. Xuất phát từ thực tế đó chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số cây trồng xen đến sinh trưởng và năng suất của dong riềng”.
Mục đích của đề tài Lựa chọn được cây trồng xen phù hợp nhằm nâng cao năng suất dong riềng góp phần nâng cao độ phì, hạn chế xói mòn đất 1. Mục tiêu nghiên cứu - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số cây trồng xen đến sinh trưởng của dong riềng. - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số cây trồng xen đến tình hình sâu bệnh hại và khả năng chống đổ của dong riềng - Ảnh hưởng của một số cây trồng xen đến yếu tố cấu thành năng suất của dong riềng. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập nghiên cứu khoa học - Nhằm giúp sinh viên củng cố kiến thúc, kỹ năng và nâng cao kiến thức đã học vào thực tế tạo điều kiện học tập và phát huy khả năng vốn có. Giúp sinh viên có thêm kiến thức và kinh nghiệm trong thực tiễn sản xuất. n 3 - Trên cơ sở học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn đã giúp cho sinh viên nâng cao được chuyên môn của mình có cơ hội học hỏi, nắm được phương pháp tổ chức và tiến hành nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất. Ý nghĩa trong sản xuất Góp phần xác định được cây trồng xen phù hợp với điều kiện tự nhiên nâng cao năng suất, giảm nguy cơ suy thoái đất, đáp ứng nhu cầu đưa vào sản xuất tại Thái Nguyên và các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc.
n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Nguồn gốc, đặc điểm thực vật học và yêu cầu sinh thái của cây dong riềng 2. Nguồn gốc Cây dong riềng có tên khoa học Canna Edulis Ker. Dong riềng có nguồn gốc ở Peru, Nam Mỹ.
Ngày nay dong riềng được trồng rộng rãi ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới trên thế giới. Nam Mỹ là trung tâm đa dạng của dong riềng nhưng châu Á, châu Úc và châu Phi là những nơi trồng và sử dụng dong riềng nhiều nhất (Cecil, 1992; Hermann, 1999). Dong riềng được gọi với một số tên khác nhau như Queenlanl Arrowroot, Canna Indica (L. Dong riềng được chế biến lấy bột để làm lương thực, thực phẩm là chính.
Người ta đã xác định được 7 loài dong riềng nguồn gốc phát sinh ở Nam Mỹ và Trung Quốc (Darlington và Janaki, 1945) đó là: - Canna discolor ở Tây Ấn nhiệt đới, - C. Flauca ở Tây Ấn và Mehico, - C. flacida ở Nam Mỹ, - C. edulis ở châu Mỹ nhiệt đới, - C.
Indica ở châu Mỹ nhiệt đới, - C.humilis ở Trung Quốc. Phân bố Trên thế giới dong riềng được trồng ở quy mô thương mại tạicác nước vùng Nam Mỹ, châu Phi, và một số nước nam Thái Bình Dương. Ở châu Á, dong riềng được trồng tại Thái Lan, Indonesia, Nam Trung Quốc, Úc và Đài Loan (Hermann và Cs, 2007)[15]. Phân loại cây dong riềng - Tên khoa học : Canna Edulis Ker - Dong riềng thuộc họ họ chuối hoa Cannacea - Bộ : Scitaminales Số lượng nhiễm sắc thể là 9, có 2 dạng nhị bội 2n = 18 và tam bội 2n = 2x= 27 2.
Đặc điểm thực vật học của cây dong riềng Là cây loại thân thảo đứng, cao từ 1,2 đến 1,5 m, màu tía. Thân ngầm phình to thành củ, chứa nhiều tinh bột. Củ nằm ngay dưới mặt đất. Lá hình thuôn, dài 50 – 60 cm, rộng 25 – 30 cm có gân to chính giữa lá.
Thời gian sinh trưởng 10 – 12 tháng: 1 tháng đầu (từ khi cây mọc) là thời kì cây con; 5 tháng tiếp theo là thời kì cây đẻ nhánh phát triển hoàn chỉnh về thân lá; 4 - 5 cuối là thời kỳ củ phình to, tích lũy tinh bột. Thời kỳ này được nhận biết từ khi dong riềng đẻ nhánh đông đặc kín đất và cây bắt đầu ra hoa. Sau 12 tháng cây sinh trưởng trở lại khi đó củ non nảy mầm, hàm lượng tinh bột trong củ chính sẽ giảm dần. Thân: Thân dong riềng gồm 2 loại là thân khí sinh và thân củ.
Thân khí sinh trung bình cao từ 1,2 đến 1,5m có những giống có thể cao trên 2,5m. Thân cây thường có màu xanh hoặc xen tím. Thân gồm những lóng kéo dài, giữa các lóng là các đốt, thân khí sinh được tính từ đốt tiếp phần củ. Giải phẫu thân khí sinh cho thấy bên ngoài thân được cấu tạo bởi lớp biểu bì gồm những tế bào dẹt, dưới biểu bì có những bó cương mô xếp thành những bó tròn có tác dụng chống đỡ cho cây, tiếp đến là những bó libe và mạch, trong cùng là nhu mô.
Củ: Củ cây dong riềng hình thành từ thân rễ phình to, những củ có thể dài 60cm. Thân rễ phân thành nhiều nhánh và chứa nhiều tinh bột, thân rễ nằm trong đất gồm nhiều đốt, mỗi đốt có một lá vảy, lúc mới ra lá vảy có hình n 6 chóp nhọn dần dần to ra bị rách và tiêu dần; Trên mỗi đốt của thân củ có nhiều mầm có thể phát triển thành nhánh, nhánh có thể chia thành các nhánh từ cấp 1 đến cấp 3. Vỏ của thân có thể có màu trắng, vàng kem đến màu tía hồng. Kích thước củ biến động khá lớn phụ thuộc vào giống và điều kiện chăm bón.
Giải phẫu thân rễ cho thấy phía ngoài củ là biểu bì gồm những bó mạch dẫn libe và gỗ, tiếp là lớp tế bào nhu mô chứ ít một số hạt tinh bột, vào trong nữa là lớp trụ bì rất rõ và trong cùng là nhu mô chứa nhiều hạt tinh bột. so với thân khí sinh thân rễ có ít bó cương mô hơn. Năng suất cây dong riềng rất cao. Nếu trồng ở nơi đất tốt, một khóm dong riềng có thể thu được 15 – 20kg củ.
Trồng thâm canh trên diện tích dong riềng cho năng suất đạt 50 – 60 tấn/ha. Lá: Lá dong riềng gồm phiến lá và cuống lá với bẹ lá ở phái gốc, lá thuôn dài, mặt trên lá có màu xanh lục xen mặt dưới màu xanh hoặc màu tím. Lá dài khoảng 35 – 60 cm và có chiều rộng 22 – 25cm; Mép lá nguyên, xung quanh mép lá có viền một đường mỏng màu tím đỏ hoặc màu trắng trong; Cuống lá dạng bẹ ôm lấy thân có chiều dài khoảng 8 – 15cm. Rễ: Bộ rễ cây dong riềng thuộc loại rễ chùm, rất phát triển rễ mọc từ các đốt của thân củ, từ lớp tế bào trụ bì đốt thân củ phát triển; Rễ của cây dong riềng phát triển liên tục phân thành rễ cấp 1, cấp 2 và cấp 3 (tùy thuộc vào giống).Do củ phát triển theo chiều ngang nên rễ chỉ ăn sâu vào đất khoảng 20 – 30 cm.
Hoa: Hoa dong riềng xếp thành cụm, cụm hoa dạng chùm, hoa mọc ở ngọn cây. Cây thường mang ít hoa lưỡng tính, không đều. Cụm hoa được bao bởi một mo chung như hoa chuối. Chùm hoa tiết diện hình tam giác, có từ 6 – 8 đốt, mỗi đốt có 2 hoa, đốt dưới cùng và trên cùng có một hoa.
Cấu tạo hoa gồm có 3 lá đài hình cánh rời nhau, 3 cánh hoa dài thon cuộn theo chiều dài. Hoa có 5 nhị đực, ngoài có 3 nhị thì 2 nhị biến thành bản n 7 hình cánh hoa, 1 nhị biến thành cánh môi cuộn lại phía trước. Vòng trong có 2 nhị, trong đó 1 nhị thì chỉ còn vết, nhị kia một nửa nhị cánh mang một bao phấn, nửa còn lại cũng biến thành hình cánh. Tất cả các nhị đều có màu sắc sặc sỡ, màu cánh biến động từ màu đỏ tươi đến màu vàng điểm đỏ.