CHƯƠNG 1: TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE NANG LỰC CẠNH TRANH 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh 1. Tình hình nghiên cứu ở nưóc ngoài Tính đến nay, lý thuyết về năng lực cạnh tranh trên thế giới phát triển theo các khuynh hướng khác nhau, những trường phái và cách tiếp cận khác nhau. Yếu tố tạo nên lợi nhuận trong kinh doanh được đề cập đến trong mô hình Porter’s Five Forces được xuất bản lần đầu trên tạp chí Harvard Business Review năm 1979.
Mô hình trên còn được viết là "Năm lực lượng của Porter", được coi là công cụ hữu ích và hiệu quả giúp xác định ngu6n gốc lợi nhuận. Hơn nữa, mô hình này cung cấp những chiến lược cạnh tranh giúp công ty duy trì hoặc tăng trưởng lợi nhuận. Porter công bố tác phẩm "Lợi thế cạnh tranh quốc gia". Cuốn sách đã được Porter nghiên cứu tại mười quốc gia hàng đầu về kinh tế.
Cuốn sách đưa ra lý thuyết cơ bản của cạnh tranh dựa trên nguyên nhân là năng suất, nhờ vậy nhiều công ty cạnh tranh với nhau. Porter cho rằng các lợi thé so sánh truyền thống về tài nguyên thiên nhiên và lao động giá rẻ đã không còn là nguồn gốc của sự giàu có. Cuốn sách cũng giới thiệu mô hình "kim cương" - một cách giúp xác định rõ vị thế cạnh tranh của một quốc gia (hoặc từng địa điểm) trong cuộc cạnh tranh toàn cầu hiện nay và là một phần không thể thiếu trong tư duy thương mại quốc tế. Đã có những nghiên cứu đánh giá thực trạng và giải pháp cho vấn đề NLCT trong ngành viễn thông.
Trong lĩnh vực viễn thông, có những nghiên cứu sau: Công trình “Tư nhân hóa và phát triển năng lực công nghệ trong lĩnh vực viễn thông: một nghiên cứu điển hình của Sri Lanka Telecom” của Abeysinghe và Paul (2005). Công trình đã phân tích sự ảnh hưởng quan trọng của năng lực công nghệ và tư nhân hóa đối với ngành viễn thông. Ngành viễn thông muốn nâng cao sức cạnh tranh phải có năng lực công nghệ mạnh cùng môi trường đầu tư tự do và bình đăng. Necmiddin Bagdadioglu & Murat Cetinkaya (2010) với công trình "Trinh tự trong cải cách viễn thông: xem xét trường hợp của Thổ Nhĩ Kỳ”.
Công trình đã đưa ra bài học kinh nghiệm về sự cải cách ngành viễn thông Thổ Nhĩ Kỳ bang việc đôi mới mạnh cơ cấu chủ sở hữu của các doanh nghiệp viễn thông và cho tư nhân được mua hơn 50% cô phan tại một số doanh nghiệp viễn thông nha nước. Theo Sanchez (1996) thì năng lực cạnh tranh của DN dựa trên khả năng phối hợp mọi nguồn lực của DN dé hình thành nên lợi thế cạnh tranh. "NLCT của một công ty là khả năng sử dụng, triển khai và kết hợp mọi nguồn lực có khả năng theo cách đề công ty hướng tới mục tiêu của nó. Nekmahmud va Shafiqur Rahman (2018), việc xác định sức cạnh tranh của sản pham dịch vụ viễn thông cần xét trên những yếu tố sau: chất lượng mạng lưới, chất lượng dịch vụ và vùng phủ sóng, dịch vụ giá trị gia tăng (GTGT), sự tiện lợi, giá cước, hậu mãi, chăm sóc khách hàng.
Tuy nhiên là nghiên cứu mới dừng lại ở việc thu thập dit liệu thứ cấp và dùng phương pháp thống kê miêu ta dé đánh giá và rút ra kết luận chứ không đi vào nghiên cứu doanh nghiệp và khách hàng. Qua phân tích những công trình có dé cập về một số nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của ngành viễn thông, luận án áp dụng mô hình viên kim cương mở (trên nền tảng mô hình của Michael E.Porter) với 6 nhân tố chính là: Chiến lược, cấu trúc và hoạt động của mỗi doanh nghiệp viễn thông trong ngành; Điều kiện yếu tố đầu vào sản xuất; Cầu thị trường; Vai trò Chính phủ; Các ngành công nghiệp có liên quan và các ngành công nghiệp phụ trợ. Tình hình nghiên cứu ở trong nước Bài viết "Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp" của tác giả của Vũ Văn Phúc (2007). Tác giả bài viết cho biết, phân tích sức cạnh tranh là một công việc phức tạp, mỗi góc độ xét cạnh tranh khác nhau đòi hỏi nhiều phương pháp luận phân tích những yêu tô làm nên sức cạnh tranh và nhân tô ảnh hưởng lên sức cạnh tranh khác nhau.
Các chủ thé tác động xen ké nhau, có ảnh hưởng lên sức cạnh tranh gồm: người lao động với ý nghĩa cốt lõi của sức sản xuất làm nên năng lực cạnh tranh; cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp kết dính các nguồn lực tạo ra sức mạnh nội tại của doanh nghiệp; hệ thống luật pháp, bộ máy quản lý nhà nước và những giá trị xã hội làm nên sức mạnh của một quốc gia. Bài báo "Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay" của tác giả Nguyễn Vĩnh Thanh trên Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế No8 năm 2005. Nguyễn Vĩnh Thanh đã phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam, đưa ra những hạn chế, nguyên nhân của sự hạn chế trên và ông đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao NLCT của từng doanh nghiệp trong tương lai cụ thể như sau: Thúc day hoạt động marketing trực tuyến; Giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm; Bảo vệ và phát triển thương hiệu doanh nghiệp; Đổi mới co cau bộ máy tổ chức, hoàn thiện kỹ năng quản lý tiên tiến của đội ngũ lãnh đạo, quản trị trong các doanh nghiệp; Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong mỗi doanh nghiệp; Hoàn thiện hệ thống thông tin, tăng cường sử dụng thương mại điện tử dé điều hành kinh doanh; Xây dựng văn hoá của doanh nghiệp. Bài nghiên cứu với tiêu đề "Nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phâm chủ chốt của nền kinh tế Việt Nam" của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (2008) thì sau khi phân tích thực trạng NLCT của một số sản phâm chính, bài viết đề xuất bây giải pháp dé nâng cao NLCT của những sản phẩm chủ lực của Việt Nam.
Bài nghiên cứu "Hoàn thiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực viễn thông Việt Nam" Trần Văn Thịnh, Hà Nội (2007). Đề tài đã hệ thống các vấn đề căn bản của quản lý nhà nước trong lĩnh vực viễn thông. Đề tài phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với lĩnh vực viễn thông Việt Nam và những vấn đề cơ bản hoàn thiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực viễn thông Việt Nam. Theo ông Trần Văn Thịnh thì biện pháp lớn nhất nâng cao sức cạnh tranh của ngành viễn thông Việt Nam đó là hoàn thiện các cơ chế, chính sách quản lý nhà nước trong lĩnh vực viễn thông, tác giả không nghiên cứu bức tranh tổng quan giải pháp nhằm nâng cao NLCT lĩnh vực viễn thông ở cấp độ ngành.
Nếu như ta xem xét ở cấp độ NLCT ngành viễn thông thì việc hoàn thiện cơ chế quản lý cũng là một trong những giải pháp nhằm nâng cao hơn hiệu lực của quản lý nhà nước về lĩnh vực viễn thông, giúp gián tiếp nâng cao hơn NLCT của ngành viễn thông. Theo tác giả Trần Đăng Khoa (2007) với tác phâm "Phát triển ngành viễn thông Việt Nam đến năm 2020". Trần Đăng Khoa đã nghiên cứu những kinh nghiệm phát triển của một số nước trên thế giới để áp dụng vào phân tích thực trạng tồn tại và phát triển của ngành viễn thông Việt Nam thời gian vừa qua, giai đoạn trước năm 2006 trở về trước và từ đó đề ra các giải pháp phát triển ngành viễn thông Việt Nam sau năm 2020. Bài viết được tác giả tiến hành nghiên cứu thực trạng phát triển ngành viễn thông Việt Nam năm 2006 trở về trước, đây là giai đoạn ngành viễn thông mới đang có sự tăng trưởng.
Tuy nhiên bài nghiên cứu của tác giả Trần Đăng Khoa chưa đề cập nhiều về NLCT của ngành viễn thông Việt Nam cụ thé: Tác gia đã không nói rõ có những nhân tố nào ảnh hưởng đến NLCT của ngành viễn thông Việt Nam và đâu là những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng; Các giải pháp ma Tran Đăng Khoa nêu ra mang tính chung chung cho phát triển ngành viễn thông, chi có một số nhóm giải pháp mang tính đột phá có ảnh hưởng tích cực tới nâng cao NLCT của ngành viễn thông Việt Nam đặc biệt là giai đoạn hiện nay (từ sau năm 2006). Nghiên cứu về "Năng lực cạnh tranh của nhóm doanh nghiệp thuộc Công ty Bưu chính viễn thông trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh”. Nghiên cứu về thực trang và giải pháp đã làm rõ một số van dé lý luận và thực tiễn có ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Bưu chính viễn thông, từ đó giúp đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh và đưa ra kiến nghị các giải pháp nâng cao NLCT của doanh nghiệp thuộc Công ty Bưu chính viễn thông trên địa bàn thành phố Hỗ Chí Minh của tác giả Trương Hoài Trang (2017). Theo tác giả Lê Ngọc Minh (2018) với nghiên cứu "Phát triển kinh doanh của một số doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ thông tin di động tại Việt Nam".
Tác giả Lê Ngọc Minh dé cập đến lĩnh vực thông tin di động (một lĩnh vực trong ngành viễn thông), tác giả cũng đã nghiên cứu và tập hợp được những van dé lý luận căn bản về phát triển kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ thông tin di động tại Việt Nam. Tác giả Lê Ngọc Minh tập trung phân tích thực trạng một số doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ thông tin di động Việt Nam hiện nay trong đó chọn 3 doanh nghiệp có thị phần trên 95% thị trường là Tổng công ty viễn thông Quân đội nay là Tập đoàn viễn thông Quân đội Viettel, Công ty thông tin di động VMS (MobiFone), Công ty dịch vụ viễn thông Vinaphone làm đối tượng nghiên cứu chính. Từ phân tích thực trạng tác giả Lê Ngọc Minh đã đưa ra cơ hội, thách thức, mục tiêu cùng những giải pháp phát triển kinh doanh dịch vụ thông tin di động tại Việt Nam thời gian tới. Tác giả nghiên cứu về góc độ phát triển kinh doanh của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông di động, còn những lĩnh vực khác thuộc ngành viễn thông như viễn thông vệ tinh, internet, băng rộng.
tác giả không nghiên cứu tới. Tác giả Lê Ngọc Minh nghiên cứu một lĩnh vực của ngành viễn thông là viễn thông di động, tập trung vào khía cạnh vi mô, đó là những biện pháp, giải pháp nhăm phát triển kinh doanh, tăng thuê bao, doanh thu, lợi nhuận và tạo sức cạnh tranh đối với nhóm doanh nghiệp này.