Chương 1: Những vấn đề lý luận về năng lực cạnh tranh của Công ty Chứng khoán Chương 2: Năng lực cạnh tranh của Công ty Chứng khoán Tân Việt Chướng 3: Định hướng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Chứng Khoán Tân Việt CHUONG 1 : NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1. HOAT DONG KINH DOANH CUA CÔNG TY CHUNG KHOAN 1. Khái niệm và phân loại CTCK 1. Khái nệm CTCK Thị trường chứng khoán(TTCK): là một bộ phận của thị trường tài chính, có một ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với quá trình huy động vốn và sử dụng vốn cho nên kinh tế.
Để hình thành và phát phát triển thị trường có hiệu quả, một điều kiện không thé thiếu là có sự tham gia của các chủ thé kinh doanh trên TTCK. Trên TTCK, chứng khoán được các tổ chức phát hành bán cho nhà đầu tư cũng như các chứng khoán được mua đi bán lại giữa các nhà đầu tư với nhau. Tuy nhiên, giao dịch trên TTCK không phải thực hiện trực tiếp giữa người mua và người bán mà phải qua các định chế tài chính trung gian, ở TTCK Việt Nam chủ yếu đó là các Công ty Chứng khoan(CTCK). Công ty chứng khoán là một tổ chức tài chính trung gian thực hiện các nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán.
CTCK là tô chức trung gian trong các giao dịch trên TTCK, kết nối và thực hiện giao dịch giữa người mua và người bán. Bên cạnh đó, CTCK còn là trung gian về thông tin, cung cấp thông tin tư vấn, các sản phẩm nghiên cứu nhằm hỗ trợ nhà đầu tư chọn lựa được các chứng khoán cho danh mục đầu tư của mình. CTCK cũng là trung gian về vốn khi đóng vai trò là cầu nối giữa nhà đầu tư và tổ chức phát hanh,. Tại Việt Nam, trong Luật Chứng khoán và các nghị định hướng dẫn đều không nêu định nghĩa hay khái niệm CTCK.
Duy chi trong Quyết định 27/2007/QD-BTC ngày 24/4/2007 của Bộ Tài chính có quy định: “Công ty chứng khoán là tô chức có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứng khoán, bao gồm một, một sé hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vẫn đầu tư chứng khoán”. Phân loại CTCK Hiện nay trên thế giới, các CTCK có rất nhiều hình thức pháp lý như quốc doanh, cô phần, trách nhiệm hữu hạn, liên doanh, doanh nghiệp tư nhân. Theo Luật Chứng khoán hiện hành, các CTCK hoạt động trên lãnh thô Việt Nam chỉ có hai hình thức pháp lý là công ty cổ phần hoặc trách nhiệm hữu hạn. Quy định này giúp CTCK có khả năng huy động vốn lớn và chia sẻ rủi ro trong phạm vi vốn góp.
Hoạt động của các CTCK rất đa dạng và phức tạp, khác han với các doanh nghiệp sản xuất hay thương mại thông thường vì môi trường hoạt động là TTCK - thị trường tài chính bậc cao của nền kinh tế thị trường. Do hoạt động đa dạng và phức tạp như vậy nên vẫn đề xác định mô hình tổ chức kinh doanh của CTCK ở mỗi quốc gia lại có những điểm khác biệt nhất định tùy theo đặc điểm của hệ thống tài chính và sự cân nhắc lợi hại của những người làm chính sách ở quốc gia đó. Nhưng khái quát lại, hai mô hình được áp dụng phổ biến hiện nay là mô hình công ty đa năng và mô hình công ty chuyên doanh chứng khoán. > Mô hình công ty đa năng được chia làm hai dạng: đa năng một phần (các ngân hàng muốn kinh doanh chứng khoán phải thành lập các công ty con độc lập, hoạt động tách rời với hoạt động kinh doanh tiền tệ) và đa năng hoàn toàn (các ngân hàng thương mại được phép kinh doanh tông hợp, bao gồm cả tiền tệ, chứng khoán và bảo hiểm).
Mô hình này có ưu điểm là sự kết hợp rất cao, do đó giảm bớt được rủi ro cho hoạt động kinh doanh chung bằng việc đa dạng hóa đầu tư. Ngoài ra, mô hình này còn có ưu điểm là tăng khả năng chịu đựng của ngân hàng trước những biến động trên thị trường tài chính. Tuy nhiên ở mô hình đa năng hoàn toàn nay tính chuyên môn hóa không cao, và nếu môi trường luật pháp không chặt chẽ sẽ dễ dẫn tới tình trạng lũng đoạn thị trường, kéo theo là khủng hoảng tài chính. > Mô hình công ty chuyên doanh chứng khoán, hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do các công ty độc lập, chuyên môn hóa trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận, các ngân hàng không được trực tiếp tham gia vào kinh doanh chứng khoán.
Mô hình này có ưu điểm là hạn chế được rủi ro cho hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện cho các CTCK đi vào chuyên môn hóa sâu trong lĩnh vực chứng khoán dé thúc đây thị trường phát triển, tuy nhiên khả năng phân tán rủi ro trong kinh doanh bị hạn chế. Mô hình này được áp dụng phô biến ở các nước Mỹ, Nhật và các thị trường mới nổi như Hàn Quốc, Thái Lan. Tuy nhiên do xu thế hình thành nên các tập đoàn tài chính khổng 16 nên ngày nay một số thị trường cũng cho phép kinh đoanh trên nhiều lĩnh vực tiền tệ, chứng khoán, bảo hiểm nhưng được tô chức theo mô hình công ty mẹ - công ty con, có sự quản lý, giám sát chặt chẽ và hoạt động tương đối độc lập với nhau. Hiện nay ở Việt Nam đang áp dụng mô hình công ty đa năng một phần.
Vai trò của Công ty Chứng khoản 1.1 Đối với các tổ chức phát hành > Hỗ trợ chuyên môn thông qua các hoạt động tư vấn: CTCK cung cấp cho doanh nghiệp các giải pháp tổng hợp về tài chính công ty như, cơ cấu lại doanh nghiệp, lập và đánh giá dự án, quản lý tài sản và định hướng đầu tư cho doanh nghiệp. > Tạo ra cơ chế huy động vốn thông qua TTCK: Mục tiêu của các tô chức phát hành khi tham gia vào TTCK là huy động vốn thông qua hình thức phát hành các chứng khoán. Vì thế, bằng hoạt động bảo lãnh phát hành và mạng lưới đại lý phát hành, CTCK có thể cung cấp dịch vụ chào bán chứng khoán ra trên thị trường, giúp doanh nghiệp huy động vốn. Đối với các nhà đầu tư > Kiểm soát rủi ro trong hoạt động đầu tư của khách hàng: TTCK là thị trường của những sản phẩm tài chính cao cấp, và niềm tin của nhà đầu tư vào giá trị tương lai của doanh nghiệp.
Đề thẩm định chất lượng và giá cả của chứng khoán thì cần thiết phải dựa trên các thông tin về doanh nghiệp, nganh.va xử lý thông tin. Vi thế CTCK có vai trò giúp nhà đầu tư đánh giá đúng và chính xác giá trị khoản đầu tư của mình. Với dịch vụ tư van, CTCK trở thành một kênh cung cấp thông tin hiệu qua cho nhà đầu tư. Những thông tin này bao gồm giá cả các loại cổ phiếu, trái phiếu, tình hình chính sách, môi trường kinh tế trong và ngoài nước.
Những thông tin này được CTCK cung cấp chính xác và kịp thời, là cơ sở để các nhà đầu tư thực hiện các quyết định mua ban của minh. > Đảm bảo an toàn trong giao dịch: Thông qua việc lưu ky va đăng ký chứng khoán, các CTCK nắm được thông tin về các chứng khoán và tỷ lệ sở hữu chứng khoán của nhà đầu tư, từ đó kịp thời đưa ra các quyết định xử lý khi tỷ lệ này vượt quá mức quy định của pháp luật hiện hành. Cũng qua hoạt động này, CTCK cung cấp cho nhà đầu tư những thông tin về chứng khoán bị mất cắp hay không còn giá tri lưu hành, đảm bảo cho các chứng khoán mua bán là các chứng khoán thực nhằm bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư. Khi giao dịch chứng khoán được thực hiện, CTCK tiến hành chuyển giao quyền sở hữu chứng khoán và thanh toán tiền giữa các bên tham gia giao dịch.
Như vậy, CTCK có nhiệm vụ đảm bảo an toàn trong các hoạt động giao dịch chứng khoán. Đối với thị trường Chứng khoán(TTCK) > Góp phần tạo lập giá cả và điều tiết thị trường: Giá cả là do thị trường quyết định, nhưng dé đưa ra mức giá cuối cùng, người mua và người bán phải thông qua CTCK vì họ không được trực tiếp tham gia vào quá trình mua bán. Ngoài ra, CTCK còn thực hiện vai trò 6n định thi trường, can thiệp để điều tiết giá cả. Vai trò này xuất phát từ nghiệp vụ tự doanh, qua đó CTCK dành một tỷ lệ nhất định các giao dich của mình (do luật pháp quy định) dé thực hiện vai trò bình 6n thị trường.
> Là tác nhân tạo hàng hoá và tính hấp dẫn của hàng hoá cho TTCK. Trên thị trường sơ cấp, bằng hoạt động bảo lãnh phát hành. > Với chuyên môn và uy tin của mình, cô phiếu và trái phiếu khi được CTCK bảo lãnh phát hành sẽ rút ngắn thời gian phát hành và nhanh chóng được giao dịch trên TTCK. Trong quá trình bảo lãnh, CTCK xác định gia chứng khoán cho dot phát hành phù hợp với thực trạng của tô chức phát hành và tình hình thị trường, đồng thời bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu.
Điều này khiến chứng khoán được nhà đầu tư tín nhiệm hơn. Bên cạnh đó, hoạt động môi giới và tư van của CTCK trên thị trường thứ cấp tao nên tính thanh khoản cho chứng khoán, làm cho chúng hấp dẫn hơn đối với nhà đầu tư. Từ đó tác động trở lại, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp tục phát hành chứng khoán đề huy động vốn trên thị trường so cap.Dối với các cơ quan quan lý thị trường Mục tiêu của các cơ quan quản lý, giám sát thị trường là đảm bảo giao dịch an toàn và kiểm soát thị trường. CTCK có vai trò cung cấp thông tin cho các cơ quan quản lý thị trường dé thực hiện mục tiêu đó.
Các CTCK thực hiện được vai trò này vì họ vừa là người phân phối các chứng khoán mới phát hành thông qua hoạt động bảo lãnh phát hành và dai ly phát hành, vừa là trung gian mua bán chứng khoán va thực hiện các giao dịch trên thị trường. Một trong những yêu cầu của TTCK là các thông tin phải được công khai, minh bach dưới sự giám sat của các cơ quan quản lý thị trường. Việc cung cấp thông tin vừa là quy định của hệ thống luật pháp, vừa là nguyên tắc nghề nghiệp của các CTCK. Vì vậy, các CTCK cần phải minh bạch và công khai trong hoạt động của mình.