Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang giữ vị trí trung tâm kinh tế, thương mại và du lịch vùng biên giới Tây Nam với diện tích tự nhiên 104,7 km² cùng hơn 15,4 km đường biên giới giáp Vương quốc Campuchia. Hoạt động du lịch đóng vai trò là động lực tăng trưởng kinh tế then chốt, thúc đẩy tỷ trọng ngành dịch vụ - thương mại chiếm đến 71,77% trong cơ cấu kinh tế địa phương. Địa bàn sở hữu hệ thống di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia tiêu biểu như Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam, Lăng Thoại Ngọc Hầu, Chùa Tây An, cùng Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ thu hút trên 5,10 triệu lượt khách năm 2018.

Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước về du lịch tại thành phố Châu Đốc giai đoạn 2015–2019 còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn lớn:

  • Sản phẩm du lịch đơn điệu, phụ thuộc nặng nề vào du lịch tâm linh mùa vụ.
  • Tỷ lệ khách lưu trú chỉ dao động ở mức khiêm tốn từ 8% đến 8,6% trên tổng lượt khách đến.
  • Doanh thu từ dịch vụ gia tăng còn thấp do tình trạng du khách viếng miếu xong rời đi ngay trong ngày.
  • Hạ tầng du lịch, khu vui chơi giải trí cao cấp, cơ sở lưu trú chuẩn quốc tế 5 sao và công tác quản lý trật tự đô thị, vệ sinh môi trường vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch tại Châu Đốc từ năm 2015 đến năm 2019, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện giai đoạn 2019–2022 và định hướng đến năm 2030. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đón 7 triệu lượt khách và gia tăng thời gian lưu trú theo Nghị quyết số 09-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết quản lý hành chính công và quản lý kinh tế hiện đại, tập trung vào 9 chức năng quản lý nhà nước về du lịch được quy định tại Điều 10 Luật Du lịch số 09/2017/QH14. Khung phân tích xem xét vai trò của chính quyền cấp huyện, thành phố thuộc tỉnh theo Điều 24 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 trong việc cụ thể hóa quy hoạch, ban hành chính sách và thanh tra kiểm soát thị trường.

Bên cạnh đó, đề tài kết hợp mô hình phát triển du lịch bền vững và lý thuyết chuỗi giá trị dịch vụ du lịch cấu thành từ 4 yếu tố then chốt: tài nguyên tự nhiên - nhân văn, cơ sở hạ tầng - vật chất kỹ thuật, sản phẩm du lịch đặc thù và nguồn nhân lực phục vụ. Nghiên cứu cũng kế thừa bài học kinh nghiệm thực tiễn từ tỉnh Lâm Đồng trong việc đón gần 10 triệu lượt khách thông qua quản lý liên ngành và tỉnh Cà Mau trong chiến lược quy hoạch du lịch sinh thái gắn liền với bảo vệ tài nguyên môi trường.

Các khái niệm trọng tâm được chuẩn hóa trong luận văn bao gồm:

  • Quản lý nhà nước về du lịch: Hệ thống tác động có tổ chức và bằng quyền lực pháp luật của bộ máy chính quyền địa phương lên các chủ thể tham gia hoạt động du lịch nhằm đạt mục tiêu kinh tế - xã hội.
  • Du lịch tâm linh: Loại hình du lịch gắn liền với yếu tố thiêng liêng, tín ngưỡng, đáp ứng nhu cầu giao tiếp tinh thần và thưởng ngoạn văn hóa.
  • Du lịch sinh thái và văn hóa cộng đồng: Hoạt động khai thác cảnh quan thiên nhiên sông nước và đời sống bản địa của 4 dân tộc anh em (Kinh, Hoa, Chăm, Khmer) gắn với giáo dục môi trường.
  • Sức cạnh tranh điểm đến: Khả năng cung ứng dịch vụ đạt chuẩn mực để thu hút và duy trì mức độ hài lòng của du khách.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp tiếp cận đa nguồn, kết hợp dữ liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê tỉnh An Giang, báo cáo chuyên ngành của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh An Giang giai đoạn 2012–2018 và Phòng Văn hóa - Thông tin thành phố Châu Đốc với dữ liệu sơ cấp thực chứng.

Cỡ mẫu khảo sát gồm 150 phiếu được phân bổ theo phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích thành 3 nhóm đối tượng độc lập:

  1. Nhóm 1: 50 cán bộ công chức thuộc các cơ quan quản lý nhà nước (Phòng Tài chính - Kế hoạch, Quản lý Đô thị, Văn hóa - Thông tin).
  2. Nhóm 2: 50 đại diện doanh nghiệp vận tải và cung ứng dịch vụ di chuyển phục vụ du lịch.
  3. Nhóm 3: 50 nhà quản lý các doanh nghiệp lưu trú, lữ hành và khu điểm du lịch trên địa bàn.

Phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp, so sánh chỉ số tăng trưởng và đánh giá chuyên gia được lựa chọn nhằm lượng hóa chính xác mức độ hoàn thành của 9 chức năng quản lý công. Cách tiếp cận này giúp đối chiếu khách quan giữa chính sách ban hành và hiệu quả thực thi thực tế trong mốc thời gian nghiên cứu từ 2015 đến 2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích dữ liệu thực tế giai đoạn 2014–2018 đã chỉ ra 4 phát hiện cốt lõi:

  • Tăng trưởng lượt khách vượt bậc nhưng mất cân đối về nguồn khách: Lượng du khách đến Khu du lịch Núi Sam tăng đều từ 4,20 triệu lượt (năm 2014) lên 5,10 triệu lượt (năm 2018) với tốc độ tăng trưởng bình quân 5,05%/năm, chiếm đến 95% lượng khách toàn thành phố Châu Đốc và khoảng 60% – 70% tổng lượt khách toàn tỉnh An Giang. Dẫu vậy, khách nội địa chiếm áp đảo trên 98%, trong khi khách quốc tế chỉ chiếm dưới 2% tổng lưu lượng.

  • Nghịch lý tỷ lệ lưu trú thấp và thời gian lưu trú ngắn: Mặc dù dòng khách đạt quy mô hàng triệu người, tỷ lệ khách lựa chọn lưu trú qua đêm tại Châu Đốc chỉ đạt từ 8% đến 8,6%. Số ngày lưu trú bình quân giai đoạn 2012–2017 duy trì ở mức thấp, dao động từ 1,18 đến 1,50 ngày đối với khách nội địa và sụt giảm từ 1,26 ngày xuống còn 0,50 ngày đối với khách quốc tế vào năm 2017.

  • Thực thi quản lý trật tự và thanh tra chuyên ngành đạt nhiều kết quả định lượng: Chính quyền thành phố đã tổ chức 4.318 lượt cán bộ tuần tra giao thông, lập biên bản 6.539 trường hợp vi phạm, nhắc nhở 18.294 trường hợp lấn chiếm vỉa hè; kiểm tra 225 cơ sở thương mại (xử phạt 25 cơ sở gian lận giá và an toàn thực phẩm); kiểm tra 345 cơ sở lưu trú và an ninh trật tự (phát hiện 23 vi phạm); đồng thời tổ chức 9 lớp tập huấn nghiệp vụ cho 930 lượt nhân viên, hộ tiểu thương.

  • Tăng trưởng kinh tế tích cực nhưng thiếu hụt hạ tầng dịch vụ cao cấp: Tốc độ tăng trưởng kinh tế Châu Đốc đạt bình quân 16,26%/năm trong giai đoạn 2017–2018, thu nhập bình quân đầu người tăng từ 39,48 triệu đồng lên 48,85 triệu đồng. Dù ngân sách đã đầu tư 90,46 tỷ đồng cho 10 công trình hạ tầng giai đoạn 2013–2016, thành phố vẫn thiếu hoàn toàn các resort 5 sao, công viên chuyên đề và dịch vụ giải trí đêm quy mô lớn.

Thảo luận kết quả

Thực trạng du khách chỉ "cúng Bà xong là về" phản ánh sự đơn điệu nghiêm trọng của chuỗi sản phẩm du lịch địa phương. Hoạt động du lịch hiện tại mang nặng tính thời vụ tâm linh, tập trung cao điểm vào mùa lễ hội tháng Giêng đến tháng Tư âm lịch, sau đó suy giảm rõ rệt trong các tháng còn lại.

Khi so sánh với kinh nghiệm quản lý của tỉnh Lâm Đồng, nơi đón gần 10 triệu lượt khách năm 2018 nhờ đa dạng hóa sản phẩm nghỉ dưỡng và nông nghiệp công nghệ cao, Châu Đốc chưa khai thác hiệu quả tài nguyên du lịch sinh thái sông nước Làng bè nổi sông Hậu, kênh Vĩnh Tế và văn hóa bản địa người Chăm Châu Giang.

Dữ liệu nghiên cứu về sự mất cân đối này có thể được trình bày trực quan qua biểu đồ tròn so sánh tỷ trọng khách vãng lai trong ngày (khoảng 91,4%) với khách lưu trú (8,6%), kết hợp biểu đồ cột thể hiện mức sụt giảm ngày lưu trú của khách quốc tế (từ 1,26 ngày năm 2014 xuống 0,50 ngày năm 2017). Đồng thời, bảng ma trận đối chiếu 9 chức năng quản lý nhà nước sẽ làm nổi bật khoảng cách giữa công tác quy hoạch trên giấy tờ và mức độ thu hút nguồn vốn tư nhân vào 23 dự án mời gọi đầu tư trọng điểm tại Khu du lịch Quốc gia Núi Sam.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước và đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  • Đẩy nhanh tiến độ quy hoạch và huy động vốn đầu tư 23 dự án du lịch trọng điểm: Ủy ban nhân dân thành phố Châu Đốc phối hợp cùng Sở Kế hoạch và Đầu tư tập trung giải phóng mặt bằng, tạo cơ chế ưu đãi thu hút nhà đầu tư chiến lược triển khai dự án Cáp treo Núi Sam, Công viên Văn hóa Núi Sam với tượng Phật Thích Ca ngồi thiền cao 81m, phấn đấu hoàn thiện toàn bộ hạ tầng kỹ thuật trước năm 2025 nhằm nâng thời gian lưu trú bình quân lên mức 2,0 ngày/khách.

  • Chuẩn hóa và chuyên nghiệp hóa nguồn nhân lực du lịch toàn diện: Phòng Văn hóa - Thông tin thành phố chủ trì liên kết với các cơ sở đào tạo chuyên ngành mở các lớp bồi dưỡng định kỳ cho 1.500 lượt lao động mỗi năm; tập trung trang bị ngoại ngữ (tiếng Anh giao tiếp), văn minh thương mại, kỹ năng phục vụ buồng bàn và thuyết minh viên di tích; đặt mục tiêu trên 80% lao động trực tiếp tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ đạt chuẩn nghiệp vụ vào năm 2025.

  • Phát triển sản phẩm du lịch đặc thù và liên kết tour tuyến liên vùng: Trung tâm Xúc tiến Đầu tư - Du lịch xây dựng các sản phẩm du lịch sinh thái sông nước kết hợp văn hóa cộng đồng làng Chăm, chợ nổi, tuyến tham quan phòng tuyến biên giới kênh Vĩnh Tế và tour di tích lịch sử chiến trường xưa; liên kết chặt chẽ tuyến du lịch quốc tế Châu Đốc – Phnom Penh qua đường thủy và đường bộ dài 90 km, nâng tỷ lệ khách quốc tế đạt mức trên 5% tổng lượt khách vào năm 2025.

  • Tăng cường thanh tra liên ngành và ứng dụng công nghệ thông tin quản lý điểm đến: Công an thành phố, Đội Quản lý thị trường và Phòng Y tế duy trì chế độ kiểm tra đột xuất 100% cơ sở lưu trú, nhà hàng, điểm kinh doanh; xử lý dứt điểm nạn chèo kéo nhang đèn, ép giá, mất vệ sinh an toàn thực phẩm; đồng thời nâng cấp cổng thông tin điện tử du lịch đạt trên 50.000 lượt truy cập/năm và vận hành hệ thống bản đồ số du lịch thông minh trong giai đoạn 2022–2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương: Lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện, thành phố, cán bộ Sở Du lịch, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch có thể áp dụng trực tiếp khung phân tích 9 chức năng quản lý nhà nước để xây dựng đề án phát triển kinh tế ban đêm, quy hoạch phân khu và ban hành quy chế quản lý trật tự văn minh đô thị du lịch.

  • Các nhà đầu tư và doanh nghiệp dịch vụ du lịch: Doanh nghiệp lữ hành, vận tải, chủ khách sạn và nhà hàng nắm bắt bức tranh toàn cảnh về thị trường 5,1 triệu lượt khách, từ đó nhận diện cơ hội đầu tư vào 23 dự án trọng điểm, phát triển sản phẩm nghỉ dưỡng cao cấp và tour liên vận biên giới.

  • Giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu học thuật: Chuyên ngành Quản lý công, Kinh tế phát triển, Du lịch học có thể sử dụng công trình như một nghiên cứu tình huống điển hình về phương pháp khảo sát 150 mẫu phân tầng, lượng hóa năng lực quản lý điểm đến du lịch tâm linh tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

  • Ban quản lý các khu di tích, danh thắng quốc gia: Đội ngũ quản trị di tích trên cả nước tham khảo kinh nghiệm thực tế trong việc tổ chức lễ hội quy mô hàng triệu người, quản lý xung đột không gian thương mại và giải quyết bài toán ô nhiễm môi trường điểm đến.

Câu hỏi thường gặp

  • Điểm nghẽn lớn nhất trong quản lý nhà nước về du lịch tại thành phố Châu Đốc là gì? Điểm nghẽn lớn nhất là sự phát triển thiếu đồng bộ giữa tốc độ tăng trưởng lượng khách và hạ tầng lưu trú, dịch vụ giải trí. Mặc dù đón trên 5,1 triệu lượt khách mỗi năm, tỷ lệ lưu trú chỉ đạt 8% đến 8,6% do thiếu các khu nghỉ dưỡng cao cấp, khiến doanh thu từ dịch vụ gia tăng chưa tương xứng với tiềm năng.

  • Thị trường khách du lịch đến Châu Đốc có những đặc điểm nhận diện nào nổi bật? Thị trường mang tính phân hóa sâu sắc khi khách nội địa chiếm trên 98% và động cơ chính là du lịch tâm linh tại Miếu Bà Chúa Xứ. Khoảng 78% du khách có nhu cầu quay lại hàng năm theo mùa lễ hội, trong khi thị trường khách quốc tế chỉ chiếm chưa đầy 2% và có số ngày lưu trú giảm mạnh còn 0,5 ngày.

  • Phương pháp khảo sát của luận văn được tổ chức như thế nào nhằm đảm bảo tính khách quan? Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích với tổng quy mô 150 phiếu, chia đều cho 3 nhóm đối tượng: 50 cán bộ quản lý công, 50 doanh nghiệp vận tải và 50 doanh nghiệp dịch vụ lữ hành, lưu trú; giúp đối chiếu đa chiều hiệu quả thực thi 9 chức năng quản lý nhà nước.

  • Châu Đốc có thể học hỏi điều gì từ kinh nghiệm quản lý du lịch của Lâm Đồng và Cà Mau? Thành phố cần học tập Lâm Đồng ở mô hình cải cách hành chính một cửa để kêu gọi đầu tư hạ tầng quy mô lớn và hợp tác liên vùng; đồng thời áp dụng bài học của Cà Mau trong việc quy hoạch bảo tồn nghiêm ngặt hệ sinh thái tự nhiên gắn liền với phát triển sản phẩm du lịch cộng đồng bền vững.

  • Dự án trọng điểm nào được xem là đòn bẩy đột phá để chuyển đổi mô hình du lịch Châu Đốc? Hệ thống 23 dự án mời gọi đầu tư vào Khu du lịch Quốc gia Núi Sam, nổi bật là dự án Cáp treo Núi Sam và quần thể Công viên Văn hóa với tượng Phật Thích Ca cao 81m, được xác định là đòn bẩy chủ đạo giúp đa dạng hóa trải nghiệm và kéo dài thời gian lưu trú của du khách.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với ngành du lịch cấp đô thị loại II dựa trên các quy định của Luật Du lịch 2017 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015.
  • Đánh giá thực chứng bức tranh phát triển du lịch Châu Đốc giai đoạn 2015–2019 với quy mô đón hơn 5,10 triệu lượt khách, đóng góp vào cơ cấu dịch vụ 71,77%, đồng thời chỉ rõ hạn chế về tỷ lệ khách lưu trú chỉ đạt 8% – 8,6%.
  • Lượng hóa hiệu quả thực thi 9 chức năng quản lý nhà nước thông qua bộ dữ liệu điều tra 150 mẫu khảo sát đại diện cho cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ gắn liền với danh mục 23 dự án mời gọi đầu tư, chuẩn hóa nhân lực cho 1.500 lượt lao động/năm và đẩy mạnh chuyển đổi số điểm đến.
  • Định hình khung quản trị liên kết vùng kinh tế biên giới Tây Nam, mở ra hướng đi bền vững kết hợp giữa du lịch văn hóa tâm linh và du lịch sinh thái sông nước.

Các cơ quan quản lý nhà nước và nhà đầu tư cần sớm hiện thực hóa các giải pháp quy hoạch trước mốc thời gian 2025 nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, kiến tạo môi trường du lịch an toàn, văn minh và đưa du lịch Châu Đốc trở thành ngành kinh tế mũi nhọn thực thụ.