Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP TỈNH VÀ CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA CẤP TỈNH TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái quát về Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và Cơ quan cảnh sát điều tra cấp tỉnh trong điều tra vụ án hình sự 1. Nhận thức chung về điều tra vụ án hình sự Nhận thức về ĐTVAHS hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau và chưa có sự thống nhất, cũng chưa được hướng dẫn, giải thích chính thức bởi cơ quan có thẩm quyền. Trong BLTTHS, chưa có điều luật nào giải thích hoặc định nghĩa về ĐTVAHS.
Theo từ điển Luật học thì “điều tra là công tác trong tố tụng hình sự (TTHS) được tiến hành nhằm xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ” [43, tr. Tuy nhiên, nhận thức về điều tra theo cách hiểu này chưa xác định được chủ thể tiến hành điều tra và cơ sở pháp lý để tiến hành ĐTVAHS. Hoặc “ĐTVAHS là một giai đoạn TTHS, trong giai đoạn này cơ quan điều tra áp dụng mọi biện pháp do BLTTHS quy định để xác định tội phạm và người phạm tội” [15, tr. Quan niệm này là phù hợp với công tác điều tra của CQĐT trong giai đoạn ĐTVAHS.
Tuy nhiên theo quy định tại khoản 1 điều 65 BLTTHS năm 2003 và điều 34 BLTTHS năm 2015, CQĐT không phải là chủ thể duy nhất có thẩm quyền thực hiện các hoạt động điều tra, chính vì vậy điều tra không phải chỉ gồm hoạt động của CQĐT mà còn là hoạt động của một số cơ quan khác được giao nhiệm vụ điều tra và hoạt động điều tra của VKSND. Theo Từ điển Bách khoa Công an nhân dân thì: “ĐTVAHS là hoạt động điều tra theo pháp luật TTHS của CQĐT và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, nhằm xác định sự thật của vụ án, lập hồ sơ đề nghị xử lý, tìm ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa” [44, tr. 9 Luan van ĐTVAHS là một quá trình áp dụng pháp luật rất phức tạp, được tiến hành với mục đích làm rõ sự thật khách quan, toàn diện về vụ án hình sự (VAHS). Trong giai đoạn điều tra, CQĐT được tiến hành các hoạt động điều tra theo quy định của BLTTHS để thu thập chứng cứ, bao gồm chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, chứng cứ xác định tình tiết tăng nặng và chứng cứ xác định tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can cũng như những chứng cứ xác định các tình tiết khác của vụ án.
Theo quan điểm của tác giả, ĐTVAHS là hoạt động phát hiện, thu thập chứng cứ theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định cho CQĐT và một số cơ quan được giao nhiệm vụ điều tra tiến hành trong giai đoạn ĐTVAHS để xác định tội phạm và ngư i thực hiện hành vi phạm tội. Căn cứ vào quy định của BLTTHS và thực tiễn ĐTVAHS, có thể rút ra các đặc điểm sau đây: Thứ nhất, ĐTVAHS được tiến hành công khai theo các trình tự, thủ tục và theo những biện pháp do pháp luật TTHS quy định. Đặc trưng này cho phép phân biệt với những biện pháp điều tra khác như trinh sát - là hoạt động nghiệp vụ được tổ chức và tiến hành dưới hình thức bí mật để thu thập thông tin về tội phạm nhằm phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và nhanh chóng khám phá vụ án. Thứ hai, ĐTVAHS thường ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền con người bị nghi thực hiện tội phạm do thường phải áp dụng các biện pháp ngăn chặn, cưỡng chế như bắt, tạm giữ, tạm giam, khám xét… Nếu hoạt động điều tra không tuân thủ pháp luật sẽ tiềm ẩn nguy cơ xâm hại các quyền cơ bản của công dân, quyền con người.
Thứ ba, ĐTVAHS là bộ phận hợp thành chức năng buộc tội của Nhà nước, hỗ trợ cho cơ quan công tố thực hiện việc buộc tội và đưa vụ án ra Tòa xét xử. Thứ tư, ĐTVAHS được thực hiện từ rất sớm, ngay từ khi tội phạm xảy ra, do vậy nếu chủ động, tích cực, chính xác ngay từ giai đoạn đầu sẽ góp phần bảo đảm cho hoạt động công tố, xét xử có căn cứ và ngược lại; nếu hoạt động điều tra thụ động, chậm trễ, thiếu sót sẽ kéo theo những sai lầm của hoạt động công tố, xét xử. 10 Luan van Thứ năm, hoạt động truy tố, xét xử VAHS được thực hiện trên cơ sở đã có hồ sơ, tài liệu phản án về tội phạm và người phạm tội, còn hoạt động điều tra bắt đầu từ khi tìm kiếm tài liệu, chứng cứ. Do vậy, ĐTVAHS có vị trí, vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình tìm kiếm chứng cứ buộc tội, nên đòi hỏi phải nhận thức đầy đủ, đảm bảo nhanh chóng xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm; Xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan và tổ chức hữu quan có biện pháp khắc phục và ngăn ngừa.
Theo quy định BLTTHS năm 2003 thì chủ thể tiến hành điều tra là CQĐT (cơ quan tiến hành tố tụng); Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT và ĐTV (người tiến hành tố tụng). Trên cơ sở đó, BLTTHS năm 2015 đã có sự thay đổi quan trọng về việc nâng cao vị trí, vai trò, trách nhiệm của các chủ thể tố tụng, khẳng định CQĐT (là cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng); Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT và ĐTV (là người có thẩm quyền tiến hành tố tụng). Đồng thời, Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2006 và năm 2009); Luật Tổ chức CQĐT hình sự năm 2015 đã quy định CQĐT Công an nhân dân gồm: CQCSĐT và Cơ quan an ninh điều tra (ANĐT). Thẩm quyền điều tra của các CQĐT nêu trên được quy định trong BLTTHS năm 2003 và được cụ thể hóa trong Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2006 và năm 2009), hiện nay được quy định trong BLTTHS năm 2015 và Luật Tổ chức CQĐT hình sự năm 2015.
Mặc dù hai văn bản pháp luật này đang bị lùi thời gian thi hành, nhưng trong luận văn này vẫn đề cập đến những quy định mới nhất, có liên quan của hai văn bản pháp luật trên để giúp làm sáng tỏ các vấn đề nêu ra. Trong quá trình điều tra, CQĐT có quyền sử dụng những biện pháp được quy định trong BLTTHS: tiếp nhận và xử lý tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; áp dụng những biện pháp ngăn chặn; tiến hành các biện pháp điều tra cụ thể; yêu cầu các cơ quan, tổ chức và cá nhân cung cấp tài liệu và trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án. Trong quá trình điều tra, CQĐT có thể sử dụng các phương tiện kỹ thuật để phát hiện, ghi nhận, mô tả, thu lượm, bảo quản dấu vết, tài liệu … Đồng thời được 11 Luan van phép huy động các lực lượng (các cơ quan, tổ chức, đoàn thể quần chúng, công dân) tham gia vào hoạt động điều tra, giúp CQĐT giải quyết các yêu cầu cụ thể trong điều tra vụ án, như: truy bắt thủ phạm; bảo vệ hiện trường, cấp cứu người bị nạn, bảo vệ tài sản, hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại do tội phạm gây ra; truy tìm những người làm chứng, người bị hại, vật chứng của vụ án; phát hiện thu thập những tài liệu, chứng cứ của vụ án; giúp đỡ CQĐT về địa điểm, phương tiện vật chất tạo điều kiện cho quá trình tổ chức và tiến hành các hoạt động điều tra… Nhiệm vụ ĐTVAHS là xác định tội phạm và người đã thực hiện hành vi phạm tội, lập hồ sơ, đề nghị truy tố; tìm ra nguyên nhân, điều kiện phạm tội và yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa. Để thực hiện đầy đủ nhiệm vụ này, hoạt động điều tra phải quán triệt các nguyên tắc sau đây: chỉ có CQĐT và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được pháp luật quy định mới được phép tiến hành điều tra.
Mọi hoạt động điều tra phải tuân theo quy định trong BLTTHS và Pháp lệnh, Luật Tổ chức CQĐT hình sự. Hoạt động điều tra phải tôn trọng sự thật, tiến hành một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, phát hiện chính xác, nhanh chóng mọi hành vi phạm tội, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người có hành vi phạm tội, không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội. Thẩm quyền của viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh trong điều tra vụ án hình sự Theo quy định tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013, VKSND gồm VKSNDTC và các VKSND khác do luật định. Cụ thể hóa tinh thần của Hiến pháp, Luật Tổ chức VKSND năm 2014 đã quy định: Hệ thống VKSND bao gồm: VKSNDTC; VKSND cấp cao; VKSND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; VKSND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương; VKS quân sự các cấp.
Theo đó, tổ chức bộ máy của VKSND cấp tỉnh gồm có: Ủy ban kiểm sát; Văn phòng; Các phòng và tương đương. VKSND cấp tỉnh có Viện trưởng, các Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, công chức khác và người lao động khác. Việc tổ chức các phòng nghiệp vụ ở VKSND 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung 12 Luan van ương là không giống nhau, nhưng về cơ bản có phòng (hoặc bộ phận) sau: Phòng Thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử sơ thẩm án kinh tế, tham nhũng; Phòng Thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử sơ thẩm án an ninh và án ma túy; Phòng Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm án hình sự; Phòng Kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù; Phòng Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự; Phòng Kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính - kinh tế - lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật; Phòng Kiểm sát thi hành án dân sự; Phòng Khiếu tố.