Chương 1: Tổng quan và cơ sở lý thuyết. Chương 2: Thiết kế và tổ chức nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng hoạt động ĐBCL và sự hình thành VHCL trong trường ĐH. Chương 4: Các chiều cạnh của mối quan hệ giữa hoạt động ĐBCL và sự hình thành VHCL trong trường ĐHCL và trường ĐHTT.
TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về đảm bảo chất lượng ĐBCL bên trong trường ĐH ngày nay được phát triển mạnh mẽ hầu hết ở các CSGD trên thế giới. Đại học Paris đã tổ chức triển khai công tác ĐBCL bên trong trường ĐH từ thế kỷ 13, các hệ thống ĐBCL hầu hết bắt đầu với việc đánh giá và kiểm định chất lượng (KĐCL).
Tại Mỹ, vào cuối thế kỷ 19, kiểm định đưa vào giáo dục y khoa và các tổ chức KĐCL cũng ra đời ở Mỹ nhưng chưa đi sâu vào ĐBCL giáo dục. Từ năm 1950 đến 1989, Mỹ đưa ra hệ thống tổng thể về KĐCL, trong khi châu Âu đưa đánh giá chất lượng bên ngoài cấp quốc gia vào giữa thập niên 1980. Từ năm 1990 đến nay, ĐBCL trở nên phát triển mạnh mẽ và trở thành vấn đề quan trọng trong GDĐH. Hiện nay, kiểm định ở các nước ASEAN giống châu Âu, Mỹ, Úc và châu Phi [48, 87].
Văn hóa Công cụ / chất lượng Phương pháp Quản lý chất Kiểm định / ISO Mô hình lượng tổng thể Thanh tra Đảm bảo Cải tiến chất lượng liên tục Triết lý Kiểm soát Phòng ngừa chất lượng Phát hiện …. Các cấp độ quản lý chất lượng Hình 1.1 thể hiện một thời gian dài với ba cấp độ quản lý chất lượng: kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và quản lí chất lượng tổng thể (dựa trên ba cấp độ về chất lượng của Sallis (2005) [173]) để tìm giải pháp nâng cao chất lượng nhằm giảm thiểu lãng phí nguồn lực, sản phẩm kém chất lượng và cải tiến liên tục. Ngoài ra, các CSGD còn phải kết hợp xây dựng VHCL mới có thể đảm bảo đầy đủ cho một CSGD cải tiến liên tục và phát triển bền vững đáp ứng yêu cầu của thời đại chất lượng. 10 z Quan niệm về đảm bảo chất lượng Từ năm 2000, ĐBCL bắt đầu khẳng định tầm quan trọng của mình ở mỗi quốc gia khi xuất hiện ngày càng nhiều các CSGDĐH tư nhân trong thị trường cạnh tranh về giáo dục.
Ở giai đoạn này, hoạt động ĐBCL bắt đầu có sự định hướng rõ ràng cơ chế, biện pháp nhằm ĐBCL các hoạt động trong CSGD. UNESCO3 (2003) xác định ĐBCL trong GDĐH là các thủ tục đánh giá và quản lý có hệ thống để giám sát hoạt động của các CSGDĐH, INQAAHE4 (2004) cho rằng ĐBCL là các thái độ, đối tượng, hoạt động và thủ tục cùng các hoạt động kiểm soát chất lượng, đảm bảo chuẩn học thuật được duy trì và nâng cao. Đối với Vlăsceanu và các cộng sự (2007), ĐBCL là một vấn đề của nhận thức và cam kết mà người ta gọi là VHCL [189], quan niệm này thể hiện ĐBCL và VHCL có mối quan hệ chặt chẽ và có ảnh hưởng lẫn nhau, mong đợi của tác giả sau khi nghiên cứu ĐBCL, nội hàm của ĐBCL được chia sẻ và phổ biến rộng rãi, ít xảy ra tranh cãi. Dựa trên quan điểm của SEAMEO (2002), Lê Đức Ngọc (2008) cho rằng ĐBCL là toàn bộ các hoạt động có kế hoạch, có hệ thống được tiến hành trong hệ thống chất lượng, và được chứng minh là đủ mức cần thiết để khách hàng thỏa mãn các yêu cầu chất lượng [54].
Tương tự như vậy, định nghĩa ĐBCL của Phạm Xuân Thanh (2009) cũng dựa trên quan điểm của SEAMEO [65]. Trải qua thời gian dài, nhiều định nghĩa, khái niệm và quan điểm về ĐBCL được nêu ra bao hàm nhiều yếu tố hoạt động, hoạt động ĐBCL bên trong lẫn bên ngoài CSGD. Hơn nữa, Adelman (2009) đã nhận thức được sự cần thiết của VHCL trong GDĐH, tác giả nhấn mạnh các CSGD phải thực hiện hiệu quả các hoạt động ĐBCL để tạo thành nền tảng VHCL trong quá trình ĐBCL. Vì vậy, ĐBCL đưa đến hai mục tiêu 1 SEAMEO (Southeast Asian Ministers of Education Organization): Tổ chức Bộ trưởng giáo dục các nước Đông Nam Á.
2 TQM (Total Quality Management): Quản lý chất lượng tổng thể 3 UNESCO (United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization): Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hiệp quốc. 4 INQAAHE (International Network for Quality Assurance Agencies in Higher Education): Mạng lưới quốc tế các tổ chức ĐBCL GDĐH. 11 z chính là tăng cường năng lực cơ cấu bên trong và đối mặt với các chuẩn, nguyên tắc bên ngoài [102]. Theo quan điểm của Reisberg (2010), ĐBCL phải là một quá trình tự điều chỉnh, phản ánh và cải cách liên tục [167].
Mỗi quá trình bắt đầu ở mỗi thời điểm khác nhau dựa trên trải nghiệm riêng của từng CSGD. ĐBCL liên quan đến sự phát triển liên tục, quy trình đánh giá liên tục gồm đánh giá, giám sát, đảm bảo, duy trì và nâng cao chất lượng. Nó mang đặc trưng của TQM với hai mục đích quan trọng cần tập trung là trách nhiệm giải trình và cải tiến liên tục. Trong hệ thống ĐBCL, UNESCO (2011) nhấn mạnh 3 yếu tố: kiểm soát chất lượng, trách nhiệm giải trình và cải tiến [187] (dựa trên 3 nguyên tắc chính trong ĐBCL của Harvey (1999) [126]).
Một số tác giả vẫn xem các thuật ngữ “đảm bảo chất lượng”, “quản lý chất lượng” và “đánh giá chất lượng” là đồng nghĩa như Brennan (1997), AUN (2009), Berings và các cộng sự (2011), UNESCO (2011), tức là chúng có nội hàm như nhau. Một số tác giả khác lại cho rằng ĐBCL là một phần của quản lý chất lượng. Quan điểm về ĐBCL còn nhiều ý kiến khác nhau nhưng cơ bản vẫn là các hoạt động ĐBCL bên trong, ĐBCL bên ngoài hoặc ĐBCL bên trong và bên ngoài CSGD. Ngoài ra, một số quan điểm cho rằng ĐBCL bao gồm cả VHCL, KĐCL, số khác thì cho rằng nó độc lập với các phương thức, thủ tục khác nhưng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau trong một hệ thống.
Từ nhận định của các tác giả, nội hàm của ĐBCL hướng theo hai quan điểm chính: Thứ nhất, ĐBCL tập trung duy trì và ĐBCL. Thứ hai, ĐBCL tập trung nâng cao và cải tiến chất lượng. Vì vậy, theo tác giả luận án, hướng thứ hai phù hợp với bối cảnh nghiên cứu và triết lý TQM vì ĐBCL theo từng giai đoạn phát triển của xã hội, thích nghi với yếu tố cạnh tranh, tức là nâng cao và cải tiến chất lượng liên tục. 5 AUN (Asean Univeristy Network): Mạng lưới các trường ĐH Đông Nam Á.
12 z Đảm bảo chất lượng bên trong Tự đánh giá là hoạt động xương sống và là nền tảng trong hệ thống ĐBCL bên trong vì nó cung cấp thông tin toàn diện về mọi hoạt động trong CSGD [89], một nhận định khá đầy đủ về các hoạt động trong CSGD qua công tác tự đánh giá. Theo quan điểm này, hệ thống ĐBCL bên trong đòi hỏi phải minh bạch và trách nhiệm giải trình [157], có chiến lược phù hợp [86], xác định phạm vi năng lực của những người liên quan [137] nhằm ĐBCL cho tất cả các hoạt động bên trong CSGD. ĐBCL bên trong GDĐH châu Âu gồm 7 nội dung nhấn mạnh cải tiến chất lượng [86], nguyên tắc Chiba của APQN6 (2008) gồm 7 nội dung nhấn mạnh xây dựng và phát triển VHCL [29] và Gvaramadze (2008) gồm 7 nội dung nhấn mạnh trách nhiệm, VHCL và cam kết chất lượng [123]. AUN (2009) cho rằng hệ thống ĐBCL bên trong là một hệ thống mà các nhà quản lý và cán bộ giảng dạy sử dụng các cơ chế quản lý nhằm duy trì và nâng cao chất lượng [87], AUN (2011) đưa ra mô hình ĐBCL cho hệ thống ĐBCL bên trong như Hình 1.
ĐBCL bên trong Các công cụ Tiến bộ Tỉ lệ tốt nghiệp, Phản hồi của thị Thực hiện trường lao động giám sát của SV tỉ lệ bỏ học và cựu SV nghiên cứu Các công cụ SV Đánh giá khóa Đánh giá Đánh giá học và chương đánh giá đánh giá trình học nghiên cứu dịch vụ Các quy trình Đảm bảo việc ĐBCL ĐBCL ĐBCL ĐBCL kiểm tra,thi cử các điều kiện chuyên biệt của SV đội ngũ hỗ trợ hỗ trợ SV Các công cụ Phân tích Thẩm định Hệ thống Sổ tay ĐBCL cụ thể SWOT giữa các trường thông tin chất lượng Các việc tiếp theo Hình 1. Mô hình ĐBCL cho hệ thống ĐBCL bên trong Hình 1.2 bao gồm các hoạt động ĐBCL (cơ chế, biện pháp) trong trường ĐH 6 APQN (Asia-Pacific Quality Network): Mạng lưới chất lượng châu Á – Thái Bình Dương. Các hoạt động ĐBCL trong mô hình (Hình 1.2) thể hiện “đúng nghĩa” duy trì và ĐBCL, đúng và đủ các hoạt động cần thiết nhất của một trường ĐH. Phạm Xuân Thanh (2011) đưa ra hệ thống ĐBCL bên trong của nhà trường Việt Nam cơ bản dựa trên sự kết hợp của mô hình châu Âu, APQN, AUN và phù hợp với bộ tiêu chuẩn KĐCL trường ĐH Việt Nam (theo Quyết định số 65/2007/QĐ- BGDĐT ngày 01/11/2007 của Bộ Giáo dục và Đào tạo) như Hình 1.
Hệ thống ĐBCL bên trong của nhà trường Các chủ trương của nhà Cơ chế phê duyệt, Chiến lược Công khai trường, kế hoạch cải tiến giám sát và định kỳ liên tục cải các thông tin chất lượng giáo dục, một đơn rà soát đánh giá các tiến, nâng cao về giảng vị chuyên trách về ĐBCL chương trình giáo chất lượng dạy, chương (đối với các trường ĐH, cao dục (đối với các giáo dục, trình và kết đẳng), các hoạt động và sự trường ĐH, cao ĐBCL đội ngũ quả giáo phối hợp giữa các đơn vị bên đẳng và trung cấp giảng dạy. dục-đào tạo. trong nhà trường. Hệ thống ĐBCL bên trong của nhà trường Việt Nam Hệ thống ĐBCL bên trong của nhà trường Việt Nam cơ bản bao gồm hầu hết các hoạt động ĐBCL trong hệ thống ĐBCL của AUN.
Dựa trên bộ tiêu chuẩn đã ban hành, các trường ĐH có thể bổ sung một số hoạt động ĐBCL phù hợp với bối cảnh của trường nhằm tăng cường hoạt động ĐBCL bên trong. Tuy nhiên, mức độ đánh giá chất lượng của AUN có 7 mức (từ không có gì đến xuất sắc) hướng đến ĐBCL chất lượng quốc tế trong khi bộ chuẩn 65 chỉ có 2 mức (đạt và chưa đạt), chưa thể hiện rõ mức độ chất lượng trường ĐH đạt được. Về vấn đề này, dựa trên hệ thống ĐBCL AUN-QA, Ngô Doãn Đãi (2012) xác định các việc cần làm của các trường ĐH Việt Nam hiện nay là (1) Có chính sách rõ ràng và những quy trình phù hợp để ĐBCL các chương trình đào tạo và bằng cấp và (2) Chú ý huy động sự tham gia của GV, nhân viên và SV [20].