Tổng quan nghiên cứu
Thống kê tư pháp giai đoạn từ năm 2014 đến tháng 6 năm 2018 cho thấy nhóm tội phạm xâm hại tình dục người chưa thành niên diễn biến hết sức phức tạp, trong đó hành vi giao cấu hoặc quan hệ tình dục với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi chiếm tới 41% tổng số vụ việc trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở châu Á và thứ 2 trên thế giới phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em vào ngày 20 tháng 2 năm 1990. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: "Trẻ em như búp trên cành", khẳng định nghĩa vụ chăm sóc và bảo vệ mầm non non nớt của đất nước là trách nhiệm của toàn xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường và tiến trình công nghiệp hóa đã kéo theo nhiều hệ lụy tiêu cực đối với sự an toàn của thanh thiếu niên.
Vấn đề cốt lõi của đề tài là giải quyết những xung đột lý luận và vướng mắc thực tiễn trong quá trình phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử theo Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2015. Mục tiêu nghiên cứu hướng tới việc chuẩn hóa các yếu tố cấu thành tội phạm, làm rõ các khái niệm pháp lý mới như hành vi quan hệ tình dục khác, đồng thời đánh giá toàn diện thực tiễn áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Vĩnh Phúc. Phạm vi nghiên cứu bao quát không gian toàn tỉnh Vĩnh Phúc trong khung thời gian 4,5 năm (2014 - tháng 6/2018). Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình nhằm cung cấp hệ thống luận cứ vững chắc, hướng tới mục tiêu nâng cao 100% tính chuẩn xác trong định tội danh, giảm thiểu nguy cơ oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm trong hoạt động tư pháp.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác - Lênin, kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Về lý thuyết chuyên ngành, đề tài kế thừa hệ thống lý luận tội phạm học và luật hình sự của Giáo sư Lê Cảm (2000, 2005) về các vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự, lý thuyết định tội danh của Giáo sư Nguyễn Ngọc Hòa (2000, 2010), cùng các nghiên cứu chuyên sâu về cấu thành tội phạm của Giáo sư Võ Khánh Vinh (2011, 2014) và Tiến sĩ Đinh Văn Quế (2006). Theo đó, tội phạm được nhìn nhận là hiện tượng xã hội - pháp lý nguy hiểm, được tạo thành từ 4 yếu tố thống nhất: khách thể, mặt khách thể, chủ thể và mặt chủ thể.
Khung phân tích của luận văn làm sáng tỏ 4 khái niệm nền tảng:
- Khái niệm trẻ em: Luật Trẻ em năm 2016 quy định tại Điều 1 rằng trẻ em là người dưới 16 tuổi (tăng 1 tuổi so với Pháp lệnh năm 1989), phù hợp với thể lực và tâm sinh lý của người Việt Nam.
- Khái niệm người chưa thành niên: Điều 90 Bộ luật Hình sự năm 2015 xác định người dưới 18 tuổi là đối tượng được áp dụng chính sách xử lý nhân đạo, giáo dục là chính.
- Hành vi giao cấu: Theo Bản tổng kết số 329/HS2 ngày 11 tháng 5 năm 1976 của Tòa án nhân dân tối cao, giao cấu được xác định là sự cọ sát hoặc đưa bộ phận sinh dục nam vào bộ phận sinh dục nữ.
- Hành vi quan hệ tình dục khác: Bao gồm các hành vi xâm nhập hoặc không xâm nhập qua đường miệng, đường hậu môn, quan hệ đồng giới hoặc sử dụng các công cụ kích dục nhằm thỏa mãn khoái cảm tình dục.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ 100% hồ sơ vụ án và bản án hình sự sơ thẩm, phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật liên quan đến tội xâm hại tình dục người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi tại Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc và các Tòa án nhân dân cấp huyện. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ theo chủ đích với cỡ mẫu gồm hơn 50 bản án và tài liệu điều tra, truy tố tiêu biểu từ các địa bàn trọng điểm như thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên, huyện Tam Dương, huyện Vĩnh Tường, huyện Lập Thạch, huyện Sông Lô và huyện Bình Xuyên.
Phương pháp phân tích được lựa chọn gồm: phương pháp hệ thống hóa, phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp thống kê xã hội học và phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia. Lý do lựa chọn hệ thống phương pháp này là nhằm đối chiếu trực tiếp giữa các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) với Bộ luật Hình sự năm 2015, từ đó phát hiện những điểm nghẽn trong hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt. Timeline nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt trong 12 tháng, tập trung rà soát toàn bộ các giai đoạn tố tụng trước và sau khi Bộ luật Hình sự năm 2015 chính thức đi vào cuộc sống.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Qua khảo sát thực tế tại tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2014 đến tháng 6 năm 2018, nghiên cứu đã rút ra 4 phát hiện căn bản:
Thứ nhất, tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi chiếm tỷ trọng cao nhất trong nhóm tội danh xâm hại tình dục vị thành niên tại địa phương, lên tới 41% tổng số vụ án được thụ lý và xét xử.
Thứ hai, 100% trường hợp người bị hại từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi đều có biểu hiện tự nguyện hoặc đồng thuận xuất phát từ tình cảm yêu đương non nớt, sự tò mò giới tính hoặc tập tục tảo hôn. Quan niệm dân gian "gái thập tam, nam thập lục" đã khiến hơn 70% các vụ việc không được người bị hại chủ động tố giác, gây khó khăn lớn cho công tác phát hiện tội phạm.
Thứ ba, về đặc điểm nhân thân, 100% người phạm tội trong các bản án được khảo sát là nam giới từ đủ 18 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhưng nhận thức pháp luật còn hạn chế. Thực tế xét xử cho thấy các mức án được tuyên rất đa dạng, điển hình như Bản án số 12/2016/HSST của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường tuyên phạt bị cáo Trần Ngọc Lân 15 tháng tù giam và bị cáo Nguyễn Minh Đức 24 tháng tù giam về tội giao cấu với trẻ em.
Thứ tư, công tác định tội danh và áp dụng pháp luật có sự lúng túng khi xử lý các hành vi quan hệ tình dục phi truyền thống. Trước khi Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực, các cơ quan tố tụng thường gặp vướng mắc do Điều 115 Bộ luật Hình sự năm 1999 chỉ giới hạn ở hành vi giao cấu cơ học thông thường.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng của loại tội phạm này tại Vĩnh Phúc là do tác động từ sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, sự gia tăng nhanh chóng của các khu công nghiệp, nhà trọ công nhân và các cơ sở kinh doanh dịch vụ có điều kiện. Việc thiếu thốn các sân chơi lành mạnh và thiếu hụt chương trình giáo dục giới tính học đường đã tạo kẽ hở cho các hành vi lệch chuẩn xã hội phát sinh. Khi so sánh với công trình của tác giả Hồ Thị Nhung (2014) và Tạ Thị Thu Thảo (2013), bức tranh tội phạm tại Vĩnh Phúc có nét tương đồng với xu hướng chung toàn quốc nhưng mang tính phức tạp đặc thù do địa bàn giáp ranh vùng thủ đô.
Dữ liệu nghiên cứu được biểu đạt trực quan thông qua bảng thống kê tần suất xuất hiện tội phạm theo từng đơn vị hành chính cấp huyện và biểu đồ cột so sánh tỷ trọng giữa các tội danh xâm hại tình dục trẻ em qua từng năm. Biểu đồ chỉ ra rằng các huyện có tốc độ phát triển công nghiệp nhanh như Bình Xuyên và Vĩnh Tường chiếm hơn 55% tổng số vụ án được khởi tố toàn tỉnh.
Về mặt ý nghĩa pháp lý, việc Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định mức hình phạt tù cao nhất lên đến 15 năm tại khoản 3 Điều 145 đã khẳng định quan điểm xử lý nghiêm minh của Nhà nước. Dù người bị hại có sự ưng thuận, pháp luật vẫn xử lý hình sự nhằm bảo vệ tuyệt đối sự phát triển thể chất, nhân phẩm và tâm sinh lý của lứa tuổi chưa hoàn thiện về mặt nhận thức.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên các kết quả khảo sát thực tiễn, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp cụ thể:
Thứ nhất, Tòa án nhân dân tối cao cần khẩn trương ban hành Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán hướng dẫn áp dụng Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2015 trong quý IV năm 2019. Nội dung văn bản cần làm rõ định nghĩa và các tiêu chí định lượng của hành vi quan hệ tình dục khác, phân định ranh giới rõ ràng với tội hiếp dâm (Điều 142), tội cưỡng dâm (Điều 144) và tội dâm ô (Điều 146), nhằm chuẩn hóa 100% tiêu chuẩn định tội trên toàn quốc.
Thứ hai, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp với Học viện Tòa án tổ chức định kỳ từ 2 đến 4 khóa tập huấn chuyên sâu hàng năm cho đội ngũ Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán. Chương trình tập huấn cần trang bị kỹ năng lấy lời khai thân thiện, thu thập dấu vết vật chứng điện tử và bồi dưỡng kiến thức tâm lý học tư pháp, phấn đấu đạt tỷ lệ 100% cán bộ tố tụng nắm vững các quy định mới.
Thứ ba, liên ngành Công an, Viện kiểm sát và Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc cần ký kết Quy chế phối hợp liên ngành về xử lý án xâm hại tình dục trẻ em trong quý II năm 2019. Quy chế hướng tới việc bảo đảm 100% các tin báo tố giác tội phạm được xử lý trong thời hạn 20 ngày, đồng thời thiết lập cơ chế bảo mật tuyệt đối thông tin nhân thân của nạn nhân để tránh gây chấn thương tâm lý thứ cấp.
Thứ tư, Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc chỉ đạo Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Đoàn Thanh niên kiện toàn 100% mô hình tư vấn tâm lý và giáo dục sức khỏe sinh sản học đường tại các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông trước năm 2020. Mục tiêu đề ra là nâng cao nhận thức tự bảo vệ của học sinh, kéo giảm từ 20% đến 30% số vụ việc phát sinh trong giai đoạn 2019 - 2025.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng trọng điểm:
Thứ nhất, những người tiến hành tố tụng gồm Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân tại tỉnh Vĩnh Phúc cũng như trên phạm vi toàn quốc. Luận văn cung cấp căn cứ thực tiễn và kỹ năng phân tích chuyên sâu phục vụ trực tiếp cho việc định tội danh, đánh giá chứng cứ và quyết định hình phạt đúng người, đúng tội.
Thứ hai, đội ngũ Luật sư và Trợ giúp viên pháp lý thuộc các Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước. Tài liệu là cẩm nang hữu ích trong việc xây dựng luận cứ bào chữa, bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên trong các vụ án hình sự.
Thứ ba, các giảng viên, nghiên cứu viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự tại các cơ sở đào tạo luật. Đề tài mở ra nguồn tư liệu phong phú về phương pháp tiếp cận thực chứng từ số liệu bản án sơ thẩm và phúc thẩm.
Thứ tư, các nhà hoạch định chính sách, cán bộ quản lý Nhà nước về công tác trẻ em, Hội Liên hiệp Phụ nữ và các tổ chức bảo vệ quyền trẻ em. Công trình là cơ sở để xây dựng các chương trình hành động quốc gia và giải pháp can thiệp phòng ngừa xâm hại trẻ em tại cơ sở.
Câu hỏi thường gặp
-
Điểm đổi mới căn bản của Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2015 so với Điều 115 Bộ luật Hình sự năm 1999 là gì? Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã mở rộng phạm vi xử lý khi bổ sung thêm yếu tố "thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác" bên cạnh hành vi giao cấu. Sự điều chỉnh này giúp bao quát các phương thức xâm phạm thân thể mới, khắc phục triệt để khoảng trống lập pháp của Điều 115 năm 1999 vốn chỉ giới hạn ở hành vi giao hợp nam nữ thông thường.
-
Độ tuổi của chủ thể và nạn nhân trong tội danh này được xác định như thế nào? Chủ thể thực hiện tội phạm bắt buộc phải là người đã đủ 18 tuổi trở lên tại thời điểm thực hiện hành vi và có năng lực trách nhiệm hình sự. Trong khi đó, người bị hại là người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi. Nếu nạn nhân dưới 13 tuổi, hành vi sẽ bị truy cứu về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi theo Điều 142.
-
Thuật ngữ "hành vi quan hệ tình dục khác" được hiểu như thế nào trong thực tiễn? Hành vi quan hệ tình dục khác được hiểu là việc kích thích tình dục thông qua đường miệng, đường hậu môn, quan hệ đồng giới nam, đồng giới nữ, hoặc sử dụng ngón tay, dụng cụ kích dục đưa vào bộ phận sinh dục, hậu môn của người khác. Đây là hành vi không hình thành sự giao cấu cơ học tự nhiên nhưng xâm phạm trực tiếp đến sự an toàn tình dục của trẻ em.
-
Tại sao nạn nhân đã tự nguyện đồng thuận mà người thực hiện hành vi vẫn bị kết tội? Trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi chưa phát triển đầy đủ về nhận thức và thể chất để tự định đoạt hành vi tình dục. Pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ quyền lợi tối cao của trẻ em, do đó mọi sự đồng thuận từ phía nạn nhân trong độ tuổi này đều không có giá trị miễn trừ trách nhiệm hình sự đối với người đã thành niên.
-
Đâu là khó khăn lớn nhất khi giải quyết loại án này tại tỉnh Vĩnh Phúc? Khó khăn lớn nhất nằm ở khâu thu thập chứng cứ chứng minh, do hành vi thường diễn ra lén lút và có sự thuận tình ban đầu. Nạn nhân và gia đình thường có tâm lý e ngại dư luận xã hội nên chậm trễ tố giác, dẫn đến việc các dấu vết sinh học và chứng cứ vật chất trên cơ thể bị mai một theo thời gian.
Kết luận
- Luận văn đã hệ thống hóa và hoàn thiện sâu sắc cơ sở lý luận về bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về tình dục của trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi theo pháp luật hình sự Việt Nam.
- Công trình đã phản ánh toàn diện bức tranh thực tiễn áp dụng pháp luật tại tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2014 - tháng 6/2018, trong đó tội danh này chiếm tỷ trọng áp đảo 41% nhóm án xâm hại tình dục vị thành niên.
- Đề tài làm rõ bản chất các yếu tố cấu thành cơ bản và định khung tăng nặng của Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2015, khắc phục triệt để các bất cập trong quá trình chuyển tiếp từ Bộ luật Hình sự năm 1999.
- Luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ và mang tính khả thi cao, bao gồm hướng dẫn lập pháp, nâng cao kỹ năng tư pháp, xây dựng quy chế liên ngành và phòng ngừa xã hội.
- Nghiên cứu đóng góp nguồn tài liệu thực chứng và luận cứ khoa học có giá trị phục vụ trực tiếp cho hoạt động lập pháp, giảng dạy học thuật và thực tiễn xét xử.
Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp cái nhìn thực chứng sâu sắc từ địa bàn cơ sở, hỗ trợ đắc lực cho lộ trình triển khai thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 trong giai đoạn 2018 - 2025. Các cơ quan tư pháp, nhà nghiên cứu và bạn đọc quan tâm có thể khai thác các giải pháp của luận văn để nâng cao hiệu lực bảo vệ quyền trẻ em trong tình hình mới.