CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO CHẤM DỨT HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO CHẤM DỨT HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái quát về quyền tự do chấm dứt hoạt động kinh doanh và bảo đảm quyền tự do chấm dứt hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Khái niệm quyền tự do chấm dứt hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Quyền tự do chấm dứt hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là một biểu hiện của quyền tự do kinh doanh và là một trong những quyền cơ bản của doanh nghiệp. Ở nước ta, quyền tự do chấm dứt hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được ghi nhận tại nhiều văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là từ giai đoạn đất nước chuyển từ kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường. Trước hết, để xem xét về quyền tự do chấm dứt hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cần làm rõ các khái niệm về “quyền tự do”, “chấm dứt hoạt động” và “doanh nghiệp”. Về “tự do”, đây là khái niệm rộng và được nghiên cứu từ rất lâu, theo Locke (John Locke 1963-1704) thì “Tự do là khả năng con người có thể làm bất cứ điều gì mà mình mong muốn mà không gặp bất kỳ cản trở nào” 3, nhà triết học cận đại Hegel (G.W Friedrich Hegel 1770-1831) thì cho rằng “Tự do là cái tất yếu được nhận thức”4.
Trong luật quốc tế về quyền con người, không có định nghĩa nào về “quyền tự do”, tuy nhiên từ việc tổng hợp các khái niệm trên, áp dụng với thực tiễn quản lý đất nước bằng Hiến pháp và pháp luật có 3 https://dangcongsan.vn/cung-ban-luan/can-nhan-thuc-dung-ve-tu-do-va-quyen-con-nguoi-206591.html, truy cập ngày 31/10/2024.vn/cung-ban-luan/can-nhan-thuc-dung-ve-tu-do-va-quyen-con-nguoi-206591.html, truy cập ngày 31/10/2024 11 thể hiểu “Quyền tự do là quyền con người có thể làm bất kỳ thứ gì trừ những việc mà bị cấm bởi pháp luật”. Về “chấm dứt hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp”, theo Từ điển tiếng Việt “chấm dứt”5 là động từ thể hiện hành động làm cho ngừng hẳn, thôi hẳn, trong khi đó “hoạt động” 6được giải thích nghĩa tại từ điển tiếng Việt là “tiến hành những việc làm có quan hệ chặt chẽ nhằm một mục đích nhất định trong đời sống xã hội”. Tại khoản 21 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã định nghĩa về “kinh doanh” 7là việc thực hiện các hoạt động phát sinh từ quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Khoản 10 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020, quy định “doanh nghiệp”8 là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.
Như vậy, để thực hiện hoạt động kinh doanh hợp pháp, điều kiện tiên quyết là phải có sự ra đời của chủ thể kinh doanh với mô hình kinh doanh được pháp luật công nhận. Trong quá trình hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp có thể phát sinh nhu cầu rút lui khỏi thị trường vì nhiều lý do khác nhau như thay đổi chiến lược kinh doanh, tình hình tài chính không khả quan, hoặc những biến động không lường trớc trong môi trường kinh doanh. Đây là nhu cầu hoàn toàn tự nhiên, hợp pháp, phản ánh sự linh hoạt trong quản lý kinh doanh của doanh nghiệp. Khi quyết định chấm dứt hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp không chỉ ngừng hẳn việc kiếm lời mà còn kết thúc vai trò của mình với tư cách là một chủ thể pháp lý đã tồn tại và hoạt động hợp pháp.
Tuy nhiên, việc chấm dứt hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 5 Hoàng Phê (chủ biên) (2000), Từ điển tiếng Việt ,Viện ngôn ngữ học,tr. 6 Hoàng Phê (chủ biên) (2000), Từ điển tiếng Việt ,Viện ngôn ngữ học,tr. 7 Khoản 21 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020. 8 Khoản 10 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020.
12 không phải là quyền tuyệt đối mà doanh nghiệp phải tiến hành chấm dứt hoạt động một cách hợp pháp và minh bạch bao gồm tuân thủ các điều kiện chấm dứt, thực hiện các thủ tục, thực hiện các nghĩa vụ tài chính, nghĩa vụ với người liên quan theo quy định của pháp luật. Do vậy, có thể hiểu quyền tự do chấm dứt hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là “quyền của doanh nghiệp được lựa chọn, quyết định việc ngừng hẳn hoạt động kinh doanh nhưng phải tuân thủ theo quy định của pháp luật”. Khái quát về bảo đảm quyền tự do chấm dứt hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm bảo đảm quyền tự do chấm dứt hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Qua nghiên cứu, tìm hiểu quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, tác giả nhận thấy rằng chưa có khái niệm hoàn chỉnh, được quy định trong hệ thống pháp luật về “Bảo đảm quyền tự do chấm dứt hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp”. Do vậy, việc nghiên cứu về bảo đảm quyền tự do chấm dứt hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tại đề án này sẽ tập trung vào tìm hiểu các khái niệm tạo nên quy định về nội dung này. Theo Từ điển tiếng Việt “bảo đảm”9 có nghĩa là “làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được, hoặc có đầy đủ những gì cần thiết”. Về “bảo đảm quyền” có thể hiểu là trách nhiệm pháp lý của Nhà nước trong việc giữ gìn, thúc đẩy, tạo điều kiện để người dân thực hiện các quyền của mình một cách tốt nhất, tăng cường tính chủ động của người dân.
Bảo đảm quyền thực hiện dựa trên các yêu cầu và nhận thức về quyền con người, quyền công dân, nhằm tạo điều kiện thực hiện, thúc đẩy thực thi quyền. 9 Hoàng Phê (chủ biên) (2000), Từ điển tiếng Việt ,Viện ngôn ngữ học,tr. 13 Trong luận án về “Bảo đảm quyền tự do kinh doanh theo pháp luật Việt Nam” tác giả Đỗ Thị Thu Hằng đã đưa ra khái niệm về bảo đảm quyền tự do kinh doanh “là việc thực hiện các biện pháp về chính trị, kinh tế, xã hội và pháp lý nhằm giúp cho chủ thể kinh doanh thụ hưởng, thực hiện được đầy đủ quyền tự do kinh doanh trên thực tế và ngăn chặn, xử lý các hành vi cản trở, vi phạm đến các quyền tự do gia nhập thị trường, quyền tự do hoạt động kinh doanh trên thị trường và quyền tự do rút lui khỏi thị trường”10. Tác giả cho rằng, khái niệm này đã đầy đủ và cung cấp cái nhìn rõ ràng và sâu sắc về bảo đảm quyền tự do kinh doanh.
Từ khái niệm về bảo đảm quyền tự do kinh doanh ở trên, theo tác giả, bảo đảm quyền tự do chấm dứt hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp “là việc thực hiện các biện pháp chính trị, kinh tế, xã hội và pháp lý nhằm giúp cho doanh nghiệp thụ hưởng, thực hiện được đầy đủ quyền tự do chấm dứt hoạt động kinh doanh trên thực tế và ngăn chặn, xử lý các hành vi cản trở, vi phạm đến quyền tự do chấm dứt hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp”. Thực tế, để bảo đảm quyền tự do chấm dứt hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cần có sự tham gia của nhiều chủ thể trong đó Nhà nước đóng vai trò quan trọng, quyết định. Nhà nước bảo đảm quyền này thông qua việc ghi nhận quyền tại các văn bản quy phạm pháp luật, quy định về bộ máy tổ chức để thực hiện quyền chấm dứt hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời ban hành các chế tài xử lý trong các trường hợp vi phạm quyền này. Bên cạnh đó, Nhà nước ban hành các quy định pháp luật để bảo đảm rằng việc doanh nghiệp lựa chọn thực hiện quyền này không xâm phạm đến các chủ thể khác trong xã hội.
Điều này không chỉ bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp mà còn đảm bảo tính công bằng và ổn định trong môi trường kinh 10 Đỗ Thị Thu Hằng (2020), Bảo đảm quyền tự do kinh doanh theo pháp luật Việt Nam, Học viện khoa học xã hội,tr. 14 doanh, tạo ra không gian cho các doanh nghiệp có thể tự do hoạt động, tự do quyết định hướng đi của mình mà không lo bị cản trở. Ý nghĩa của việc bảo đảm quyền tự do chấm dứt hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Bảo đảm quyền tự do chấm dứt hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có nhiều ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với doanh nghiệp chấm dứt hoạt động kinh doanh mà còn đối với môi trường kinh doanh, các chủ thể khác có liên quan và toàn xã hội. Thứ nhất, ý nghĩa về chính trị Một xã hội được xem là tiến bộ về mặt chính trị khi trong xã hội đó công dân có được nhiều quyền tự do.
Quyền tự do thực hiện hoạt động kinh doanh là quyền cơ bản của công dân, quyền tự do chấm dứt hoạt động kinh doanh là nhu cầu tự nhiên của doanh nghiệp và cần được pháp luật tôn trọng, bảo vệ. Vì vậy, việc ghi nhận quyền này trong Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật và bảo đảm thực hiện quyền này trên thực tế thông qua các cơ quan có thẩm quyền, chủ thể trong xã hội là một biểu hiện của xã hội tiến bộ, văn minh và hội nhập. Đồng thời, việc bảo đảm thực hiện quyền tự do chấm dứt hoạt động kinh doanh cũng phản ánh sự tôn trọng đối với tự do cá nhân và quyền sở hữu, qua đó củng cố lòng tin của doanh nhân vào cơ quan nhà nước và hệ thống pháp luật, giảm thiểu sự bất mãn xã hội. Bên cạnh đó, khi các doanh nghiệp được bảo đảm quyền chấm dứt hoạt động kinh doanh, việc này cũng khuyến khích sự minh bạch và trách nhiệm trong quản lý của cán bộ công chức trong khi thực thi nhiệm vụ được giao, từ đó tạo ra nền tảng vững chắc cho sự phát triển kinh tế và ổn định chính trị.
Từ góc độ chính trị, việc bảo đảm quyền này cũng thể hiện sự cam kết của nhà nước trong việc thúc đẩy 15 môi trường đầu tư thuận lợi và phát triển kinh tế tự do, góp phần nâng cao vị thế và uy tín của quốc gia trên trường quốc tế. Thứ hai, ý nghĩa về kinh tế Bảo đảm quyền tự do chấm dứt hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mang lại nhiều ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế. Trước hết, quyền này khuyến khích sự cạnh tranh và đổi mới trong thị trường, bởi doanh nghiệp có thể quyết định dừng hoạt động khi không còn khả năng sinh lời hoặc không còn phù hợp với xu hướng thị trường. Điều này giúp loại bỏ các doanh nghiệp yếu kém, từ đó tạo điều kiện cho các mô hình kinh doanh mới và hiệu quả hơn phát triển.