Luận văn: Thực tiễn thực hiện pháp luật về thuế TNCN tại Việt Nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật về thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân tại việt nam, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Tác giả

Nguyên Thùy Vân

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề Án Tốt Nghiệp Thạc Sĩ Luật Học

2024

87
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CAC CHỮ VIET TAT

DANH MỤC CAC BANG BIEU

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

3. Mục đích va nhiệm vụ nghién CỨU

4. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

5. Gấp Phương phi? nghiện GỮU

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tai

7. Bố cục của đề án

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUAT VE THU NHAP CHIU THUÊ THU NHAP CÁ NHÂN VA PHAP LUAT DIEU CHỈNH THU NHAP CHIU THUE THU

1.1. Khái quát về thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân

1.1.1. Khái niệm thu nhập chịu thuế thu nhấn cỗ THÂN

1.1.2. Phân loại thu nhập chịu thuế thu HHẬP C4 NWA

1.2. Khái quát về pháp luật điều chỉnh thu nhập chịu thuế thu nhập cá TAD

1.2.1. Khái niệm pháp luật về thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân

1.2.2. Khái quát về thực hiện pháp luật điều chỉnh thu nhập chịu thuế thu mhap t0

1.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG l

2. CHUONG 2. ĐÁNH GIÁ THỰC TIEN THỰC HIỆN PHÁP LUAT VE THU NHẬP CHỊU THUÊ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ MỘT SỐ ĐỊNH

2.1. Đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về thu nhập chịu thuế thu

2.1.1. Đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân từ kinh doanh

2.1.2. Đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công

2.1.3. Đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân từ đầu tư vốn, chuyên nhượng vốn

2.1.4. Đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng bat động sản

2.1.5. Đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân từ trúng thưởng, thừa kế, quà tặng

2.1.6. Đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân từ bản quyền, nhượng quyền thương mại

2.1.7. Đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật thuế thu nhập C4 DAN

2.2. Một số định hướng. kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân

2.2.1. Một số định hướng nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân

2.2.2. Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thu NAP CANALÍ

DANH MỤC TAI LIEU THAM KHAO

Tóm tắt

I. Hiểu đúng về Thuế TNCN Toàn cảnh thực tiễn tại Việt Nam

Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) là một sắc thuế trực thu, đóng vai trò then chốt trong việc hình thành ngân sách nhà nước và thực hiện chính sách điều tiết vĩ mô. Tại Việt Nam, thực tiễn thực hiện pháp luật về Thuế TNCN được xây dựng trên một hệ thống văn bản pháp lý chặt chẽ, khởi đầu là Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007 và các luật sửa đổi, bổ sung sau đó. Mục tiêu chính của sắc thuế này không chỉ là huy động nguồn thu mà còn là công cụ để đảm bảo công bằng xã hội, giảm thiểu khoảng cách giàu nghèo. Quá trình triển khai cho thấy sự chuyển biến rõ rệt từ cơ chế quản lý cũ sang cơ chế tự khai, tự nộp, đòi hỏi sự minh bạch và ý thức tuân thủ cao từ người nộp thuế. Các quy định hiện hành đã bao quát hầu hết các nguồn thu nhập chịu thuế, từ tiền lương, kinh doanh cho đến các hoạt động đầu tư vốn, chuyển nhượng bất động sản. Tuy nhiên, bối cảnh kinh tế số và sự đa dạng hóa các nguồn thu nhập mới đang đặt ra nhiều thách thức cho cả cơ quan quản lý và người nộp thuế. Việc nghiên cứu sâu về thực tiễn thực hiện Thuế TNCN tại Việt Nam không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học pháp lý mà còn góp phần đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, nâng cao hiệu quả quản lý và đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho mọi cá nhân. Đây là một quá trình liên tục, đòi hỏi sự cập nhật và điều chỉnh để phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội năng động của đất nước.

1.1. Cơ sở pháp lý điều chỉnh Thuế TNCN tại Việt Nam

Hệ thống pháp luật điều chỉnh Thuế TNCN tại Việt Nam được xây dựng dựa trên các văn bản cốt lõi, bao gồm Luật Thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 26/2012/QH13 và Luật số 71/2014/QH13. Để hướng dẫn chi tiết, Bộ Tài chính đã ban hành nhiều thông tư quan trọng như Thông tư số 111/2013/TT-BTC và các văn bản sửa đổi sau này. Các văn bản này quy định rõ về đối tượng nộp thuế, các loại thu nhập chịu thuế, phương pháp tính thuế và thủ tục kê khai. Đặc biệt, Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 đã tạo ra một bước ngoặt khi áp dụng cơ chế tự tính, tự khai, tự nộp, đề cao trách nhiệm của người nộp thuế và hiện đại hóa công tác quản lý của cơ quan thuế.

1.2. Phân loại các nguồn thu nhập chịu thuế phổ biến

Pháp luật hiện hành phân loại thu nhập chịu thuế thành 10 nhóm chính. Trong đó, thuế TNCN từ tiền lương tiền công là nguồn thu phổ biến và chiếm tỷ trọng lớn nhất. Tiếp theo là thu nhập từ kinh doanh, áp dụng cho cá nhân và hộ kinh doanh. Các nguồn thu nhập khác bao gồm: thu nhập từ đầu tư vốn (cổ tức, lợi tức), chuyển nhượng vốn (chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp), chuyển nhượng bất động sản, trúng thưởng, bản quyền, nhượng quyền thương mại, thừa kế và quà tặng. Mỗi loại thu nhập có cách xác định, mức thuế suất và kỳ tính thuế riêng, phản ánh đặc thù của từng hoạt động tạo ra thu nhập, nhằm đảm bảo tính công bằng và hợp lý trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế.

II. Thách thức trong thực hiện Thuế TNCN Các bất cập nổi cộm

Mặc dù đã có khung pháp lý tương đối hoàn chỉnh, thực tiễn thực hiện Thuế TNCN tại Việt Nam vẫn tồn tại nhiều vướng mắc và bất cập. Một trong những thách thức lớn nhất là sự lạc hậu của một số quy định so với biến động kinh tế - xã hội. Mức giảm trừ gia cảnh hiện hành, dù đã được điều chỉnh, vẫn chưa phản ánh đúng mức chi phí sinh hoạt thực tế, đặc biệt tại các đô thị lớn. Bên cạnh đó, biểu thuế lũy tiến từng phần với 7 bậc và khoảng cách giữa các bậc quá ngắn đang gây ra nhiều tranh cãi về tính công bằng và hiệu quả điều tiết. Đối với thu nhập từ kinh doanh, sự bùng nổ của thương mại điện tử đã tạo ra một "vùng xám" trong quản lý thuế, gây thất thu lớn cho ngân sách nhà nước. Nhiều cá nhân kinh doanh online không thực hiện kê khai thuế online đầy đủ, giao dịch chủ yếu bằng tiền mặt khiến việc kiểm soát dòng tiền trở nên khó khăn. Hơn nữa, việc xác định nhà ở duy nhất để được miễn thuế khi chuyển nhượng bất động sản còn phụ thuộc nhiều vào tính tự giác của người nộp thuế, trong khi cơ sở dữ liệu quốc gia chưa đủ để liên thông và xác minh. Những bất cập này đòi hỏi phải có những cải cách mạnh mẽ và toàn diện hơn.

2.1. Bất cập về mức giảm trừ gia cảnh và chỉ số giá tiêu dùng

Theo Nghị quyết số 954/2020/UBTVQH14, mức giảm trừ gia cảnh cho người nộp thuế là 11 triệu đồng/tháng và cho người phụ thuộc là 4,4 triệu đồng/tháng. Tuy nhiên, mức này đang tỏ ra không còn phù hợp. Nghiên cứu chỉ ra, "mức giảm trừ gia cảnh vẫn cao hơn GDP bình quân đầu người của nước ta" (Nguyễn Thùy Vân, 2024), nhưng lại thấp hơn nhiều so với chi phí sinh hoạt thực tế tại các thành phố lớn. Luật quy định chỉ khi chỉ số giá tiêu dùng (CPI) biến động trên 20% thì mới xem xét điều chỉnh, một ngưỡng được cho là quá cao và chậm phản ứng với lạm phát hàng năm. Điều này làm giảm ý nghĩa của chính sách, chưa thực sự giảm bớt gánh nặng cho người làm công ăn lương.

2.2. Vướng mắc trong biểu thuế lũy tiến từng phần

Biểu thuế lũy tiến từng phần hiện hành có tới 7 bậc thuế, với khoảng cách thu nhập giữa các bậc khá ngắn. Chẳng hạn, khoảng cách từ bậc 1 (5%) đến bậc 2 (10%) chỉ là 5 triệu đồng. Điều này dẫn đến tình trạng "nhảy bậc thuế" diễn ra quá nhanh, chưa tạo ra sự phân hóa rõ rệt trong điều tiết thu nhập giữa các nhóm dân cư. So với nhiều quốc gia, biểu thuế của Việt Nam có quá nhiều bậc và khoảng cách hẹp, làm phức tạp hóa việc tính toán và chưa thực sự khuyến khích cá nhân gia tăng thu nhập một cách chính đáng.

2.3. Khó khăn kiểm soát thu nhập từ thương mại điện tử

Sự bùng nổ của kinh doanh trên nền tảng số là thách thức lớn nhất đối với cơ quan thuế. Các giao dịch thường diễn ra qua nhiều kênh, sử dụng tiền mặt hoặc các ví điện tử khó truy vết. Nhiều cá nhân có thể lập nhiều tài khoản bán hàng trên các sàn khác nhau, gây khó khăn cho việc xác định tổng doanh thu. Mặc dù ngành thuế đã có nhiều nỗ lực truy thu, nhưng việc thiếu một cơ chế phối hợp đồng bộ giữa ngân hàng, các sàn thương mại điện tử và cơ quan thuế vẫn là một rào cản lớn, dẫn đến nguy cơ thất thu ngân sách.

III. Phương pháp tính Thuế TNCN từ tiền lương tiền công chuẩn

Đối với đại đa số người lao động, thuế TNCN từ tiền lương tiền công là nghĩa vụ quen thuộc nhất. Việc nắm vững cách tính thuế không chỉ giúp tuân thủ đúng pháp luật mà còn tối ưu hóa quyền lợi cá nhân. Thực tiễn thực hiện Thuế TNCN tại Việt Nam đối với nguồn thu nhập này dựa trên nguyên tắc lũy tiến, tức là thu nhập càng cao, thuế suất áp dụng càng lớn. Thu nhập tính thuế được xác định bằng tổng thu nhập chịu thuế trừ đi các khoản giảm trừ. Các khoản giảm trừ này bao gồm: giảm trừ cho bản thân người nộp thuế, giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc, các khoản đóng bảo hiểm bắt buộc (BHXH, BHYT, BHTN), và các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo, khuyến học được công nhận. Sau khi xác định được thu nhập tính thuế, cá nhân sẽ áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần để tính ra số thuế phải nộp. Việc đăng ký mã số thuế cá nhân và đăng ký người phụ thuộc là bước đầu tiên và quan trọng nhất để được hưởng đầy đủ các khoản giảm trừ theo quy định.

3.1. Xác định thu nhập chịu thuế và thu nhập miễn thuế

Thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công bao gồm tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công dưới các hình thức bằng tiền hoặc không bằng tiền. Bên cạnh đó, một số khoản thu nhập miễn thuế được pháp luật quy định rõ, ví dụ như tiền làm thêm giờ được trả cao hơn so với ngày thường, tiền ăn giữa ca, phụ cấp trang phục... Việc phân biệt rõ ràng hai loại thu nhập này là cơ sở để kê khai chính xác, tránh nộp thừa hoặc thiếu thuế cho ngân sách nhà nước.

3.2. Hướng dẫn đăng ký và áp dụng giảm trừ gia cảnh

Giảm trừ gia cảnh là khoản tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế. Để được giảm trừ cho người phụ thuộc (con cái, cha mẹ, vợ/chồng không có thu nhập hoặc thu nhập thấp), người nộp thuế phải thực hiện thủ tục đăng ký với cơ quan thuế. Hồ sơ chứng minh người phụ thuộc cần được chuẩn bị đầy đủ theo hướng dẫn tại Thông tư số 111/2013/TT-BTC. Mỗi người phụ thuộc chỉ được tính giảm trừ một lần cho một người nộp thuế trong năm tính thuế. Việc đăng ký sớm và đúng quy định sẽ giúp người lao động giảm bớt gánh nặng thuế một cách hợp pháp.

IV. Cách kê khai Thuế TNCN từ kinh doanh và chuyển nhượng vốn

Thực tiễn thực hiện Thuế TNCN tại Việt Nam đối với thu nhập từ kinh doanh và đầu tư vốn ngày càng phức tạp do sự đa dạng của các mô hình hoạt động. Đối với thu nhập từ kinh doanh, cá nhân và hộ kinh doanh phải thực hiện kê khai theo phương pháp khoán hoặc phương pháp kê khai, tùy thuộc vào quy mô doanh thu. Với sự phát triển của công nghệ, việc kê khai thuế onlinenộp thuế điện tử đang trở thành xu hướng chủ đạo, giúp tiết kiệm thời gian và tăng tính minh bạch. Trong khi đó, thu nhập từ chuyển nhượng vốn được chia thành hai loại chính: chuyển nhượng chứng khoán và chuyển nhượng phần vốn góp. Thuế suất áp dụng cho chuyển nhượng chứng khoán là 0,1% trên giá chuyển nhượng từng lần, bất kể lãi hay lỗ. Đối với chuyển nhượng phần vốn góp, thuế suất là 20% trên thu nhập tính thuế (chênh lệch giữa giá chuyển nhượng và giá vốn). Sự khác biệt này đòi hỏi nhà đầu tư phải nắm rõ quy định để tránh sai sót khi thực hiện nghĩa vụ thuế với cơ quan thuế.

4.1. Quy trình kê khai và nộp thuế đối với hộ kinh doanh

Hộ kinh doanh có quy mô lớn phải thực hiện chế độ kế toán và nộp thuế theo phương pháp kê khai. Họ phải nộp tờ khai thuế TNCN hàng quý hoặc hàng tháng. Ngược lại, hộ kinh doanh nhỏ lẻ thường áp dụng phương pháp khoán, tức là cơ quan thuế sẽ ấn định một mức thuế ổn định trong năm dựa trên doanh thu dự kiến. Việc chuyển đổi từ phương pháp khoán sang kê khai đang được khuyến khích để tăng cường tính minh bạch và chống thất thu thuế, đặc biệt trong lĩnh vực thương mại điện tử và dịch vụ ăn uống.

4.2. Lưu ý khi nộp thuế từ chuyển nhượng chứng khoán

Khi thực hiện giao dịch bán chứng khoán, công ty chứng khoán nơi nhà đầu tư mở tài khoản sẽ thực hiện khấu trừ thuế TNCN với mức 0,1% trên giá trị giao dịch bán và nộp thay cho nhà đầu tư. Đây là hình thức thu thuế tại nguồn, giúp đơn giản hóa thủ tục và đảm bảo thu đủ thuế cho ngân sách. Nhà đầu tư không cần phải tự mình thực hiện quyết toán thuế TNCN cho khoản thu nhập này vào cuối năm. Tuy nhiên, cần lưu giữ chứng từ khấu trừ thuế để làm bằng chứng đã hoàn thành nghĩa vụ thuế.

V. Bí quyết quyết toán và hoàn Thuế TNCN hiệu quả tại Việt Nam

Quyết toán thuế là bước cuối cùng để xác định tổng nghĩa vụ thuế trong một năm của cá nhân. Thực tiễn thực hiện Thuế TNCN tại Việt Nam cho thấy không phải ai cũng thuộc diện phải quyết toán thuế TNCN. Các trường hợp phải quyết toán bao gồm cá nhân có số thuế phải nộp thêm, cá nhân có số thuế nộp thừa và đề nghị hoàn thuế TNCN, hoặc cá nhân có thu nhập từ hai nơi trở lên. Thời hạn quyết toán thuế thường là ngày cuối cùng của tháng thứ 4 kể từ ngày kết thúc năm dương lịch. Hiện nay, việc quyết toán thuế đã trở nên dễ dàng hơn rất nhiều thông qua Cổng Dịch vụ công Quốc gia hoặc trang web của Tổng cục Thuế. Việc chuẩn bị đầy đủ chứng từ, đặc biệt là chứng từ khấu trừ thuế từ các tổ chức chi trả thu nhập, là yếu tố then chốt để quá trình quyết toán diễn ra nhanh chóng và chính xác. Nếu không thực hiện quyết toán đúng hạn có thể dẫn đến xử phạt chậm nộp thuế theo quy định.

5.1. Các trường hợp được ủy quyền quyết toán thuế TNCN

Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại một nơi và thực tế đang làm việc tại đó vào thời điểm tổ chức chi trả thực hiện quyết toán thuế, có thể ủy quyền cho tổ chức đó quyết toán thay. Việc ủy quyền giúp giảm tải thủ tục hành chính cho cá nhân. Tuy nhiên, nếu cá nhân có thu nhập vãng lai ở nơi khác mà chưa bị khấu trừ thuế TNCN hoặc có thu nhập từ nhiều nguồn phức tạp, họ sẽ phải tự mình thực hiện quyết toán thuế TNCN trực tiếp với cơ quan thuế.

5.2. Thủ tục và điều kiện để được hoàn thuế TNCN

Cá nhân sẽ được hoàn thuế TNCN khi số thuế đã tạm nộp trong năm lớn hơn số thuế phải nộp sau khi quyết toán. Để được hoàn thuế, cá nhân phải có mã số thuế cá nhân và nộp hồ sơ đề nghị hoàn thuế cùng với tờ khai quyết toán. Cơ quan thuế sẽ xem xét và thực hiện hoàn trả cho người nộp thuế theo quy định. Quá trình này thường mất một khoảng thời gian nhất định để xác minh thông tin, do đó việc kê khai chính xác ngay từ đầu sẽ giúp đẩy nhanh tiến độ xử lý hồ sơ.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

11/09/2025
Luận văn thạc sĩ luật học thực tiễn thực hiện pháp luật về thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Khái quát về thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân và pháp luật điều chỉnh thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân Chương 2: Đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về thu nhập chiu thuế thu nhập cá nhân và một số định hướng, kiến nghị NỘI DUNG CHUONG 1. KHÁI QUÁT VE THU NHẬP CHIU THUÊ THU NHAP CÁ NHÂN VA PHÁP LUAT DIEU CHỈNH THU NHAP CHIU THUE THU NHAP CA NHAN 1. Khái quát về thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân 1. Khái niệm thu nhập chịu thué thu nhập cá nhân Đề đưa ra khái niệm thế nào là thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân, trước hết cần tìm hiểu thu nhập và thuế thu nhập cá nhân là gì.

Về khái niệm thu nhập, theo từ điển Tiếng Việt, thu nhập là “việc nhận được tiên bạc, của cải vật chất từ hoạt động nào đó” ”.Thực té cho thay, thu nhập là những giá trị lợi ích mà tổ chức, cá nhân nhận được dưới hình thức những khoản tiền hoặc hiện vật phát sinh trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, lao động,. Do đó, Tiến sĩ Nguyễn Hải Ninh đã đưa ra định nghĩa: “Thu nhập cá nhân là tong gid tri tài san và của cải được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ mà một cá nhân tạo ra và nhận được, không phân biệt nguồn hình thành, trong một khoảng thời gian nhất dinh’”. Về khái niệm thuế thu nhập cá nhân, đây là một trong những sắc thuế quan trọng được áp dụng phô biến tại các quốc gia trên thé giới đặc biệt là các nước có nén kinh tế phát triển. Theo đó, thuế thu nhập cá nhân có thé hiểu là khoản đóng góp bắt buộc của cá nhân đối với nhà nước trên cơ sở giá trị tài san, của cải cá nhân do tạo ra hoặc nhận được theo mức độ và thời han trong quy định nhằm phục vụ những mục đích công cộng.

Một số tài liệu khác cũng có định nghĩa về khái niệm thu nhập cá nhân như theo giáo trình °, lên Ngôn ngữ hoc (2006), Tir điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Da Nang, Tr 825. * Nguyễn Hải Ninh (2017), “Kiểm soát thu nhập của ngời nộp thuế trong quá trình thực hiện pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam”, Luận án Tiển sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, Tr 10 của trường Nghiệp vụ Thuế, “thué thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập nhận được của cá nhân trong một kỳ tính thuế nhất đinh”. Hay “thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận của các cá nhân trong một năm, từng tháng hoặc từng lần””. Tuy cách định nghĩa khác nhau nhưng hầu hết các định nghĩa đều nhắn mạnh vào đối tượng mà sắc thuế này hướng đến là thu nhập, giá trị tài sản, của cải vật chất mà cá nhân tạo ra hoặc nhận được trong một năm hoặc một tháng, từng lần hoặc trong khoảng thời gian nhất định.

Về thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân, hiện nay chưa có định nghĩa cụ thể. Luật thuế thu nhập cá nhân hiện hành và các văn bản hướng dẫn chỉ liệt kê danh sách các loại thu nhập chịu thuế đồng thời đưa ra các trường hợp loại trừ. Một số văn bản pháp quy khác trong lĩnh vực thuế cũng có cách quy định tương tự và không đưa ra định nghĩa cụ thé cho khái niệm này. Ví dụ như Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 cũng đề cập đến thu nhập chịu thuế bằng cách liệt kê tương tự như Luật Thuế thu nhập cá nhân.

Tuy nhiên cũng tại các văn ban trên, khi quy định về đối tượng nộp thuế hay người nộp thuế, thu nhập chỊu thuế được đề cập đến như sau: “Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thué quy định tại Điều 3 của Luật này phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư tru có thu nhập chịu thuế quy định tai Điều 3 của Luật này phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam’; Hay “người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là tô chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dich vụ có thu nhập chịu thuế theo quy định * Trường Nghiệp vụ Thuế (2021), Giáo trình Quan lý thuế, NxB. Tài chính, Hà Nội, Tr 12. ' Trường Dai học Luật Hà Nội (2020), Giáo trình Luật Thuế Việt Nam (2020), Nxb. Giáo dục, Hà Nội, Tr.

214 Š Điều 2 Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007 sửa đổi, bé sung bởi Luật Thuế thu nhập cá nhân sửa đổi 2012; Luật sửa đổi các luật về thuế 2014 11 của Luật này” Như vậy cả pháp luật về thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp đều đề cập đến thu nhập chịu thuế với tư cách là những khoản thu làm phát sinh nghĩa vụ nộp thuế của chủ thé nhận được chúng. Khoản thu nhập nay có thé phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoặc từ các nguồn thu nhập khác theo quy định của pháp luật và là cơ sở để tính toán nghĩa vụ thuế của người nộp thuê. Từ những quy định trên và khái niệm thu nhập đã nêu, có thể hiểu thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân là giá tri tài sản, của cải mà khi cá nhân tao ra hoặc nhận được trong một khoảng thời gian xác định, làm phát sinh nghĩa vụ nộp thuế của cá nhân đó. Phân loại thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân Mỗi loại thu nhập chịu thuế có đặc điểm, tính chất riêng nhưng khi phân tích, đánh giá chúng lại có những điểm tương đồng nhất định, từ đó người nghiên cứu có thé phân các loại thu nhập trên thành một hoặc nhiều nhóm.

Việc nghiên cứu, phân loại, tìm ra những loại thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân có chung đặc tính không chỉ có ý nghĩa về mặt lý thuyết và còn có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng, áp dụng pháp luật vào thực tế. Hiện nay, có nhiều cách phân loại thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân dựa trên những tiêu chí khác nhau. Nếu căn cứ vào đối tượng nộp thuế, thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân có thé chia thành hai loại là thu nhập chịu thuế của cá nhân cư trú và thu nhập chịu thuế của cá nhân không cư trú. Trong đó, cá nhân cư trú là cá nhân có mặt tại Việt Nam tu 183 ngày trở lên trong một năm đương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục tính từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam hoặc ó nơi ở ” Khoản 1 Điều 2 Luật Thuế thu nhập doanhnghiệp 2008 sửa đôi, bổ sung bởi Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp sửa đổi năm 2013, Luật sửa đổi các Luật về thuế 2014.

2 thường xuyên tại Việt Nam (có đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê dé ở từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế); cá nhân không cư trú là người không đáp ứng các điều kiện trên. Cá nhân cư trú thường là người có sự gắn bó lâu dai với quốc gia, họ sử dụng nhiều dich vụ công cộng và hạ tầng quốc gia như y té, giáo dục, an sinh xã hội do đó sé bị áp dung nghĩa vu thuế với mọi loại thu nhập phát sinh. Ngược lại, trong khi cá nhân không cư trú chỉ có mặt tại một quốc gia trong thời gian ngắn hạn, không sử dụng nhiều tài nguyên, cơ sở vật chất, dịch vụ của quốc gia khác nên thường chỉ chịu thuế đối với thu nhập phát sinh tại quốc gia đó; đồng thời để thu hút lao động, chuyên gia nước ngoài vào làm việc ngắn hạn, một số quốc gia như Việt Nam có xu hướng quy định đơn giản hóa phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân đối với đối tượng này. Như vậy, cách phân chia này có ý nghĩa quan trọng xây dựng cơ sở pháp lý trong việc kê khai, tính, nộp và quản lý thuế thu nhập cá nhân dam bảo công bằng xã hội, hợp lý trong việc xác định nghĩa vụ thuế cũng như khuyến khích và thu hút nguồn lao động quốc tế.

Nếu căn cứ vào phạm vi lãnh thổ phát sinh, thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân có thé được chia thành hai loại là thu nhập phát sinh tại lãnh thổ Việt Nam và thu nhập phát sinh ngoài lãnh thé Việt Nam. Ngày nay, công nghệ thông tin, mạng lưới internet đang dần xóa nhòa những vấn đề về khoảng cách về địa lý, văn hóa, chính trị và kinh tế, việc cá nhân cư trú của quốc gia này nhưng phát sinh thu nhập tại quốc gia khác diễn ra ngày càng phô biến. Đối với những khoản thu nhập chịu thuế phát sinh ngoài lãnh thé Việt Nam, chủ thể phát sinh khoản thu sẽ có khả năng đồng thời phải nộp thuế cho quốc gia nơi phát sinh hoặc được miễn, giảm thuế theo quy định tại Hiệp định tránh đánh thuế hai lần, Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên tham gia ký kết. Việc phân loại như trên nhắm đảm bảo nguyên tắc xây dựng pháp luật, hạn chế việc có những quy định xung 13 đột với pháp luật quốc tế, dam bảo việc tôn trong, ưu tiên các văn bản quốc tế mà Việt Nam ký kết.

Nếu căn cứ vào tính chất, khả năng, tần suất phát sinh, thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân bao gồm nhóm thu nhập phát sinh không thường xuyên và nhóm thu nhập phát sinh thường xuyên. Đây cũng là tiêu chí phân loại chính theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân trước đây tại Pháp lệnh về thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao năm 2001 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao năm 2004. Việc quan lý thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân phát sinh thường xuyên và không thường xuyên thường có sự khác biệt lớn trong cách xác định thu nhập, khấu trừ, thời điểm nộp thuế và cách giám sát của cơ quan thuế. Do đó, việc phân loại theo tiêu chí trên là cần thiết khi xây dung hệ thông quan lý thuế đảm bao phân b6 nguồn lực phù hợp, hiệu qua trong việc quản lý từng loại thu nhập chịu thuế.

Nếu căn cứ vào nguồn gốc, hoạt động làm phát sinh thu nhập, hiện nay tại Việt Nam, thu nhập chỊu thuế thu nhập cá nhân được chia thành mười loại thu nhập, bao gồm: (1).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ