Chương I TONG QUAN VE HO TRỢ KHI NHÀ NƯỚC THU HOI DAT NONG NGHIỆP VA PHAP LUAT VE HO TRỢ KHI NHÀ NƯỚC THU HOI DAT NONG NGHIEP 1. Tổng quan về hỗ trợ khi thu hồi dat nông nghiệp 1. Một số khái niệm liên quan đến hỗ trợ khi thu hôi đất nông nghiệp 1. Khải niệm đất nông nghiệp Đất đai, đặc biệt là đất nông nghiệp, luôn giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của nước ta; đặc biệt, đây là loại đất chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu đất đai của cả nước.
thuật ngữ đất nông nghiệp cũng được sử dụng thường xuyên trong đời sông cũng như trong các quan hệ, hoạt động pháp luật. Theo quan niệm truyền thống của người Việt Nam, đất nông nghiệp thường được hiểu là đất trong lúa và các loại hoa màu như ngô, khoai, sẵn,. Tuy nhiên, việc khai thác và sử dụng đất nông nghiệp không chỉ giới hạn ở việc trồng lúa và hoa màu mà còn bao gồm trồng các loại cây lâu năm có giá trị kinh tế cao, chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy sản gắn với phát triển các mô hình kinh tế trang trại nên cách hiéu trên không phù hợp trong bối cảnh hiện nay. Dưới góc độ là một thuật ngữ pháp lý, theo Từ điển Luật học đã giải thích: “Dar nông nghiệp là tổng thể các loại đất được xác định là tr liệu sản xuất chủ yếu phục vụ cho việc trông trọt và chăn nuôi, nghiên cứu thí nghiệm về trong trọt và chăn nuôi, bảo vệ môi trường sinh thái, cung ứng sản phẩm cho các ngành công nghiệp và dịch vụ".
Còn trong các văn bản pháp lý, đất nông nghiệp được định nghĩa trong Luật đất đai năm 1987 như sau: “Pat nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu dùng vào sản xuất nông nghiệp như trong trot, chăn nuôi, ké cả nuôi trông thuỷ sản hoặc nghiên cứu thi nghiệm về trồng trot, chăn nuôi”? đến Luật Dat dai năm 1993, “đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu dé sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trong trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thu) sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp "”. Như vay, đất nông Ì Viện Khoa hoc Pháp ly - Bộ Tư pháp (2006), 7ừđiền Luật hoc, Nxb Từ dién Bách khoa va Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr 237 — 238. * Điều 23 Luật đất đai năm 1987 *Điều 42 Luật đất dai 1993 nghiệp được xác định chủ yếu dựa trên tiêu chí mục đích sử dụng, tập trung chủ yếu vào các hoạt động như sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, hoặc phục vụ nghiên cứu và thí nghiệm trong lĩnh vực nông nghiệp. Điều này khá hẹp so với thực trạng phát triển đất nông nghiệp theo chiều hướng sản xuất hàng hóa cần khuyến khích mô hình kinh tế trang trại, hộ gia đình phát triển.
Dé khắc phục hạn ché trên, đến Luật Dat dai 2003, Luật Dat dai 2013 và gần đây nhất là Luật Đất đai 2024 đã không đưa khái niệm đất nông nghiệp mà chia đất thành ba nhóm chính theo mục đích sử dụng, bao gồm: nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng. Nhóm đất nông nghiệp được quy định theo phương pháp liệt kê, theo mục đích sử dụng gồm: Đất trồng cây hàng năm (đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác); đất trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp (đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ va đất rừng sản xuất; đất nuôi trồng thủy sản; đất chăn nuôi tập trung; đất làm muối, đất nông nghiệp khác. Đặc biệt, Luật Dat dai 2024 đã bé sung dat chăn nuôi tập trung vào nhóm đất nông nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn sử dụng đất dai, khuyến khích người dan phát triển sản xuất nông nghiệp theo mô hình nông trang trại; góp phần hoàn thiện hơn quy định của pháp luật về nhóm đất nông nghiệp. Như vậy, đất nông nghiệp theo quy định hiện nay bao gồm nhiều loại đất cho các mục đích sản xuất nông nghiệp khác nhau, có sự đan xen giữa loại đất nông nghiệp.
dat lâm nghiệp (trước đây). đất nuôi trồng thuỷ sản và làm muối là phù hợp. đảm bảo sự tập trung và thông nhất trong quản lý đất đai của Nhà nước; giúp các cơ quan hành chính nhà nước trong lĩnh vực đất dai tại các địa phương thuận lợi hơn trong việc giám sát quá trình khai thác, sử dụng đất của các hộ gia đình, cá nhân. Mặt khác, xét từ thực tế sử dụng đất từ xưa đến nay.
trong mỗi hộ gia đình, cả nhân thường không sử dụng thuần tuý một loại đất riêng rẽ mà đan xen khai thác và sử dụng kết hợp của nhiều loại đất khác nhau như đất: trồng lúa, trồng màu, trồng cây ăn quả, đất nuôi trồng thuỷ sản hoặc kết hợp với trồng rừng sản xuất, đất làm muối. Việc kết hợp sử dụng nhiều loại đất như vậy là một nhu cầu tất yếu khách quan của mỗi hộ muốn nâng cao năng lực sản xuất, tận dụng quỹ đất dé khai thác có hiệu qua đất đai, có điều kiện dé mở rộng sản xuất và ứng dụng khoa học kỹ thuật, đầu tư vốn thuận lợi, dễ dàng. Đây cũng là sự phù hợp với chủ trương mà Đảng và Nhà nước ta đang khuyến khích sản xuất nông nghiệp theo mô hình nông trang trại, kết hợp nông - lâm - ngư - diém nghiệp đối với hộ nông dân. Từ những phân tích trên, có thể đưa ra định nghĩa về đất nông nghiệp như sau “Dat nông nghiệp là tổng thé các loại đất có đặc tinh sử dụng tương dong với nhau, với tư cách là tư liệu sản xuất quan trọng cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, làm muối và một số mục đích nông nghiệp khác”.
Khái niệm thu hồi đất nông nghiệp Thu hồi đất là một trong những hoạt động Nhà nước khẳng định quyền định đoạt đất đai với tư cách là đại điện chủ sở hữu đối với đất đai và là chủ thê thông nhất quản lý đất đai trong phạm vi cả nước. Đề giải mã được khái niệm thu hồi đất nông nghiệp. cần làm rõ nội hàm của hoạt động thu hồi đất. Dưới góc độ là một thuật ngữ pháp lý, tại từ điền Luật học đã đưa ra khái niệm thu hồi đất như sau: “La việc co quan Nhà nước có thấm quyên thu hôi quyên sử dụng đất của người vi phạm quy định về sử dụng nhất để Nhà nước giao cho người khác sử dụng hoặc trả lại cho chủ sử dụng đất hợp pháp bị lấn chiếm.
Trường hợp can nhiêu, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của ngành sử dụng chất để sử dụng vào mục đích quốc phòng an nình, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng”). Tuy nhiên, với khái niệm này chưa làm rõ hậu quả pháp lý của hoạt động thu hồi đất mà chỉ đưa ra các trường hợp Nhà nước thu hôi đất khi vi phạm pháp luật, tự nguyên trả lại đất hay thu hồi vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, công cộng. Đồng thời, với cách thức định nghĩa theo hướng liệt kê các trường hợp Nhà nước thu hồi đất sẽ không tránh khỏi trường hợp liệt kê thiếu; ví du, sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế, xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộnghay các trường hợp khách quan khác như hết thời hạn sử dụng đất mà người sử dụng đất không được gia hạn hoặc không có nhu cầu gia hạn; sử dụng đất trong khu vực ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ con người. Đến Luật Đất đai 2003, khái niệm thu hồi đất mới được dé cập tại khoản 5 Điều 4 như sau: “Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền ' Từ điện Giải thích thuật ngữ Luật học, 31, tr.142 sử dung đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, UBND xã.
phường, thị tran quản lý theo quy định của Luật nay”. Trên cơ sở kế thừa các quy định của Luật đất đai 2003, tại Khoản 11 Điều 3 Luật Dat dai năm 2013 quy định: “Nha nước thu hôi dat là việc Nhà nước quyết định thu lại quyên sử dung đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dung đất vi phạm pháp luật về dat đaï". định nghĩa thu hồi đất được đề cập trong Luật dat đai năm 2003, Luật dat đai năm 2013 đều đã chỉ ra được bản chất của thu hồi đất đó là việc Nhà nước thu lại QSDĐ thông qua ban hành quyết định thu hồi đất. Tuy nhiên, tại Luật đất đai năm 2013, định nghĩa chi đề cập đến một trường hợp Nhà nước thu hồi đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai mà không đề cập đến các lý do khác; đồng thời chưa làm rõ sự khác nhau giữa “thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyên sử dụng dat” và “thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật dat dai”.
Đề khắc phục hạn chế trên, đến khoản 35 Điều 3 Luật Đất dai năm 2024 daquy định: “Nha nước thu hồi đất là việc cơ quan nhà nước có thâm quyên ban hành quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người sử dung dat hoặc thu lai dat của người dang sử dụng đất hoặc thu lại dat đang được Nhà nước giao quản lý "” Như vay, với khái niệm trên đã làm rõ được Nhà nước thu lại quyền sử dụng đất đối với các thửa dat đã được Nha nước trao quyền (thông qua giao đất, cho thuê đất) hoặc thu lại đất mà người sử dụng đất dang sử dụng (không thông qua việc Nhà nước trao quyền) hoặc thu lại đất đang được Nhà nước giao đề quan lý (đây là loại đất Nhà nước chỉ trao quyền quản lý mà không trao toàn quyền sử dụng dat). Có thé thấy rằng, thu hồi dat là quá trình thực hiện ngược lại so với hoạt động quản lý Nhà nước trong việc giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyên sử dụng đất. Theo đó, thu hồi đất nông nghiệp được hiểu là việc các cơ quan Nhà nước có thâm quyền ban hành quyết định thu lại quyên sử dung đất nông nghiệp của người sử dung đất hoặc thu lại đất nông nghiệp của người đang sử dụng đất hoặc thu lại đất nông nghiệp đang được Nhà nước giao quản lý. Điều này sẽ làm phát sinh hậu quả pháp lý Š Luật Dat dai 2003 * Luật Dat dai 2013 ?