CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VE CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN THEO LUẬT DOANH NGHIỆP (2005) 1. QUAN NIỆM VE CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN THEO LUAT DOANH NGHIỆP (2005) 1. Quan niệm chung về công ty Có thể nói cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, công ty ra đời và phát triển phù hợp với từng giai đoạn, điều kiện lịch sử nhất định. Công ty được hiểu theo nhiều nghĩa với những khía cạnh khác nhau.
Xét theo góc độ pháp lý, công ty được hiểu là sự liên kết của nhiều người để tiễn hành một, một sô công việc nào đó vì mục đích lợi nhuận. Trong khoa học pháp lý, mỗi nước có một định nghĩa "công ty" khác nhau. Theo pháp luật Cộng hoà liên bang Đức: "Khái niệm về công ty được hiểu là sự liên kết của hai hay nhiều cá nhân hoặc pháp nhân bằng nhiều sự kiện pháp lý, nhằm tiễn hành các hoạt động dé đạt được một mục tiêu chung nào đó "[32, tr 29]. Bộ luật dân sự Cộng hoà Pháp định nghĩa "công ty là một hợp đồng, thông qua đó hai hay nhiều người thoả thuận với nhau sử dụng tài sản hay khả năng của mình vào một hoạt động chung nhằm chia lợi nhuận thu được qua hoạt động đó" [22, tr 7].
Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan quy định về công ty: "Hợp đồng tô chức hội kinh doanh hoặc công ty là hợp đồng qua đó, hai hay nhiều người thoả thuận hợp nhau lại dé tiến hành một công việc chung, nhằm chia lời có thé có được qua công việc chung đó"(Điều 1012). Như vậy, khi xem xét bản chất của công ty, pháp luật các nước nhìn chung có một số điểm cơ bản chung nhất. Công ty do hai chủ thể trở lên góp vốn thành lập. Đây là quan niệm truyền thống từ trước đến nay về công ty.
Khái niệm công ty của pháp luật các nước Đức, Pháp, Thái Lan và một số nước khác đều chức đựng yếu tô liên kết, mà muốn liên kết được thì phải có nhiều người. Công ty sẽ không thoả mãn yếu tố liên kết nếu chỉ có một chủ thé góp vốn dé thành lập. Chủ thé ở đây có thể hiểu là các cá nhân hoặc pháp nhân. Công ty có thê là sự liên kết giữa hai hay nhiều cá nhân với nhau, giữa cá nhân với pháp nhân hoặc giữa các pháp nhân với nhau.
Pháp luật cộng hoà liên bang Đức quan niệm "công ty" là sự liên kết giữa các cá nhân hoặc pháp nhân băng các sự kiên pháp lý. Thông qua các sự kiện pháp lý này, họ tiễn hành một, một số hoạt động dé đạt được mục tiêu chung nào đó. "Mục tiêu" của việc thành lập công ty ở đây không được thê hiện rõ ràng khiến người ta có thé hiểu sang một khía cạnh khác, đó là công ty một số công ty hoạt động không vì mục đích lợi nhuận. Như vậy, khái niệm ban đầu về công ty ở cộng hoà liên bang Đức mới chỉ nêu lên được một đặc điểm nổi bật của công ty đó là sự liên kết giữa hai hay nhiều người chứ chưa làm rõ được bản chât của sự liên kêt đó.
Nếu như pháp luật Đức khang định công ty là sự liên kết của hai hay nhiều người thông qua sự kiện pháp lý thì pháp luật nước cộng hoà Pháp và Thai Lan đã có cách nhìn cụ thé hơn, rõ ràng hơn về công ty. Các nước này cũng thừa nhận công ty là sự liên kết của hai hay nhiều người. Nhưng điểm khác cơ bản ở đây là họ đã nêu ra được mục đích của việc liên kết đó là vì lợi nhuận và các thành viên thoả thuận sử dụng tài sản hay khả năng của mình vào một hoạt động chung. Bên cạnh sự phát triển của pháp luật về công ty các nước trên Thế giới, năm 1990, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Luật công ty nhằm điều chỉnh các hoạt động kinh doanh trong nước.
Luật công ty (1990) định nghĩa: " Công ty TNNH và công ty cô phần, gọi chung là công ty, là doanh nghiệp trong đó các thành viên đều góp vốn, cùng nhau chia lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn của mình góp vào công ty" (Điều 2). Luật công ty ghi nhận công ty là doanh nghiệp bao gồm công ty TNHH và công ty cô phần. Công ty có tư cách pháp nhân độc lập, các thành viên công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn góp mà họ đã góp vào công ty. Việc thành lập công ty ở đây dựa trên yếu tố liên kết đó là vốn góp của các thành viên.
Công ty được hiểu theo nghĩa truyền thống, đó là sự liên kết giữa các cá nhân, tổ chức thông qua hoạt động kinh doanh nhăm thu lợi nhuận. Công ty ở đây chỉ bao gồm hai loại công ty đó là công ty TNHH và công ty CP. Tại thời điểm này, công ty ở Việt Nam giống công ty ở Mỹ, đó là chỉ có loại hình công ty đối vốn. Pháp luật Mỹ chỉ phân biệt hai trường hợp: công ty có phát hành cổ phiếu và không phát hành cô phiếu.
Luật doanh nghiệp (1999) của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã không đưa ra một định nghĩa chung về công ty mà đưa ra các khái niệm cu thé về các loại hình công ty. Công ty theo quy định tại Luật doanh nghiệp (1999) đã được mở rộng: Công ty bao gồm công ty CP, công ty TNHH, công ty hợp danh. Trong công ty TNHH bao gồm công ty TNHH một thành viên là tổ chức và công ty TNHH hai thành viên. Như vậy, Luật doanh nghiệp (1999) bổ sung thêm loại hình công ty TNHH một thành viên và công ty hợp danh.
Theo Luật doanh nghiệp (1999) thì khái niệm công ty không còn nguyên ven theo nghĩa truyền thống của nó nữa. Công ty có thé là doanh nghiệp do một người làm chủ sở hữu, tức là pháp luật Việt Nam thừa nhận sự tồn tại của công ty TNHH một thành viên, cũng có nghĩa là phá vỡ ý nghĩa "liên kết" của công ty. Một thành viên là t6 chức có thé độc lập thành lập công ty, có tư cách pháp nhân. Luật doanh nghiệp (2005) của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không đưa ra một định nghĩa chung về công ty mà đưa ra các khái niệm cụ thể của các loại hình công ty: Công ty TNHH hai thành viên trở lên là doanh nghiệp, trong đó, thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá năm mươi; thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp (Khoản 1, Điều 38).
"Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn điều lệ của công ty" (Khoản 1, Điều 63). Công ty CP là doanh nghiệp, trong đó, vốn điều lệ được chia thành nhiều phan băng nhau gọi là cổ phan; cô đông có thé là tổ chức, cá nhân, số lượng cô đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; cô đông chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp (Khoản 1, Điều 77). Công ty hợp danh là doanh nghiệp có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng kinh doanh dưới một tên chung, ngoài các thành viên hợp danh còn có các thành viên góp vốn. Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.
Nhìn một cách khái quát thì "công ty” theo Luật doanh nghiệp (2005) được quy định cụ thể rõ ràng hơn, bổ sung thêm loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là cá nhân. Đây là sự thay đối phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội ở nước ta cũng như xu thế phát triển doanh nghiệp ở nhiều nước trên Thế giới. Chính sự thay đổi này đã tạo ra cơ chế huy động vốn mềm dẻo, bảo đảm cho các thành phần kinh tế có thé tham gia một cách dé dàng vào hoạt động sản xuất - kinh doanh, bảo đảm sự bình đăng giữa các thành phần kinh tế, từ đó tạo tâm lý yên tâm cho các nhà đầu tư khi bỏ vốn kinh doanh, góp phần xây dựng một nền kinh tế 6n định, bền vững. Do vậy, việc ban hành Luật doanh nghiệp thống nhất không những chỉ bảo đảm sự công bằng cho các doanh nghiệp trong nước mà còn bảo đảm sự công bằng về chế độ pháp lý cho các nhà đâu tư nước ngoài.
Xét về khía cạnh pháp lý từ khi công ty ra đời, công ty theo Luật doanh nghiệp (2005) có một số đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, công ty có thể do một hoặc hai chủ thê trở lên góp vốn thành lập. Chủ thể ở đây là pháp nhân hoặc cá nhân. Công ty có thé là sự liên kết giữa các pháp nhân với nhau, các thể nhân với nhau hoặc giữa thể nhân với pháp nhân. Công ty TNHH một thành viên là một ngoại lệ.
Điều này xuất phát từ điều kiện lịch sử, xã hội riêng của từng nước và thực tế kinh doanh, do vậy, khái niệm truyền thống về công ty có ít nhất hai thành viên không còn tồn tại nguyên vẹn nữa. Thứ hai, các thành viên hoặc chủ sở hữu góp tài sản của mình vào công ty. Tài sản ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, có thể là của cải như tiền, vàng, ruộng dat, nhà cửa, cũng có thé là công sức hay các giá trị tinh thần như uy tín trên thương trường, quyền sở hữu công nghiệp. Thứ ba, mục đích của việc thành lập công ty là kiếm lời.
Có thể nói, lợi nhuận là dấu hiệu để phân biệt công ty với các tô chức khác như hội từ thiện, các hội đoàn chuyên nghiệp. Như vậy, theo Luật doanh nghiệp (2005), công ty bao gồm công ty trách nhiệm hữu han, công ty cô phan, công ty hợp danh. ở đây, trong khuôn khổ của luận văn, tác giả chỉ đề cập đến loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, trong đó tập trung đi sâu nghiên cứu về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.