CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM VÀ KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ 1.1 Khái quát về đầu tư Những năm gần đây, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hóa và hội nhập thế giới, đầu tư càng khẳng định vai trò to lớn đối với sự phát triển của kinh tế quốc gia nói chung và của từng doanh nghiệp nói riêng. Đầu tư đóng vai trò then chốt quyết định vận mệnh kinh tế của từng quốc gia, quyết định sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp. Thực tế cho thấy, những quốc gia tiêu dùng phần lớn thu nhập của mình có mức đầu tư thấp, tốc độ tăng trưởng kinh tế không cao.
Ngược lại, những quốc gia có tỷ lệ đầu tư cao sẽ kéo theo tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Các doanh nghiệp không chú trọng đầu tư sẽ khó thích nghi và phát triển trong nền kinh tế thị trường, khi mà cạnh tranh ngày càng khốc liệt, sản phẩm sẽ bị suy yếu và sản xuất kinh doanh bị trì trệ. Hiện nay, có rất nhiều khái niệm khác nhau về đầu tư. Dưới góc độ kinh tế, trong lý thuyết kinh tế hay kinh tế học vĩ mô, “đầu tư là số tiền mua một đơn vị thời gian của hàng hóa không được tiêu thụ mà sẽ được sử dụng cho sản xuất trong tương lai (chẳng hạn: vốn)”1.
Trong tài chính, theo tác giả James chen, “Investment is the act of putting money to work to start or expand a business or project or the purchase of an asset, with the goal of earning income or capital appreciation” được hiểu “đầu tư là một hành động mua một tài sản với hy vọng rằng nó sẽ tạo ra thu nhập hoặc đánh giá cao trong tương lai và được bán với giá cao hơn”2. Từ điển Econterms định nghĩa về đầu tư như sau: “Investment: Any use of resources intended to increase future production output or income” 3đầu tư nghĩa là việc sử dụng các nguồn lực vớimong muốn tăng năng lực sản xuất hoặc tăng thu nhập trong tương lai. 1 Theo từ điển Wikipedia, https://vi.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A7u_t%C6%B0 2 Theo JAMES CHEN , bài viết “ Investment” ngày 30/06/2019 đăng trên trang web https://www.com/terms/i/investment.asp 3 Theo từ điển Econterms, http://econterms. 9 Ngoài ra, khái niệm về đầu tư nói chung còn được nêu trong giáo trình như sau: “Đầu tư là sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó”4.
Các khái niệm nêu trên đều đưa ra mục đích của đầu tư là thu về nhiều hơn những gì đã bỏ ra hay chính là tính sinh lợi của hoạt động đầu tư. Chủ đầu tư là những người có tài sản hay nguồn lực nhất định như tiền, sức lao động, máy móc thiết bị,… được sử dụng để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh chứ không phải đáp ứng nhu cầu tiêu dùng. Dưới góc độ pháp lý, khái niệm về đầu tư cũng được đề cập trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Theo Luật đầu tư 2014, “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư”5.
Theo khái niệm của Luật đầu tư Việt Nam thì hoạt động đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn để thực hiện các hoạt động kinh doanh bao gồm: thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư. Theo Hiệp định TPP, Hoạt động/dự án đầu tư là toàn bộ tài sản do một nhà đầu tư trực tiếp hay gián tiếp sở hữu và quản lý mang đặc điểm của một khoản đầu tư, bao gồm những đặc điểm theo đúng cam kết về vốn hoặc nguồn vốn khác, đặc điểm về mức doanh thu hay lợi nhuận kỳ vọng hoặc khả năng chấp nhận rủi ro6. Cùng với đó, Hiệp định cũng chỉ ra các hình thức đầu tư bao gồm: doanh nghiệp; cổ phần, cổ phiếu và các dạng góp vốn tham gia vào doanh nghiệp; trái phiếu, tín phiếu, các công cụ nợ khác và các khoản vay; các hợp đồng tương lai, quyền chọn và các hợp đồng phái sinh khác; đầu tư theo hình thức chìa khóa trao tay, xây dựng, quản lý, sản xuất, nhượng quyền, chia sẻ doanh thu và các hợp đồng khác; quyền sở hữu trí 4 Nguyễn Bạch Nguyêt và TS. Từ Quang Phương (2007), Giáo trình “Kinh tế Đầu tư”, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân; Tr.
5 Khoản 5, Điều 4, Luật Đầu tư 2014.1, Mục A, chương 9, Hiệp định TPP 6 10 tuệ; giấy chứng nhận, ủy quyền, giấy phép và các quyền tương tự; tài sản hữu hình hoặc vô hình, tài sản di động hoặc bất động và quyền tài sản liên quan bao gồm cho thuê, thế chấp, cầm cố và bảo lãnh. Có thể thấy, Luật Đầu tư Việt Nam và Hiệp định TPP đều dùng phương pháp liệt kê để mô tả những hành động được xem là đầu tư. Tuy nhiên, so với Hiệp định TPP, khái niệm về đầu tư theo pháp luật Việt Nam còn hạn hẹp, chỉ bao gồm 4 nhóm hoạt động nêu trên, trong khi Hiệp định TPP lại nhìn nhận đầu tư rộng hầu hết các lĩnh vực, cả Sở hữu trí tuệ, quyền thế chấp, tín chấp,… Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về đầu tư, tuy nhiên dù được nhìn nhận dưới góc độ nào thì đều có điểm chung là bỏ vốn ban đầu và mục tiêu của đầu tư là hiệu quả. Vậy từ những khái niệm trên, có thể đưa ra một định nghĩa tổng quát nhất: Đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện tại (tài chính, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động, trí tuệ,…) để tiến hành các hoạt động nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai, mà các kết quả này phải lớn hơn các nguồn lực bỏ ra để thu được các kết quả đó.
Thực chất của hoạt động đầu tư là tìm kiếm lợi ích đối với chủ đầu tư và lợi ích kinh tế – xã hội của đất nước. Với khái niệm trên, đầu tư có những đặc điểm chính sau đây: Có vốn đầu tư: Vốn có thể bằng tiền hoặc các loại tài sản khác như máy móc, thiết bị, nhà xưởng, giá trị quyền sử dụng đất, bí quyết kỹ thuật, phát minh, sáng chế, mặt nước, các nguồn tài nguyên khác,… Vốn thường được lượng hoá bằng một đơn vị tiền tệ để dễ tính toán, so sánh. Vốn có thể là nguồn vốn Nhà nước, vốn tư nhân, vốn góp, vốn cổ phần, vốn vay dài hạn, trung hạn, ngắn hạn. Tính sinh lợi: đầu tư phải đạt kết quả lợi nhuận (lợi ích tài chính) hoặc lợi ích kinh tế xã hội.
Lợi ích tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của chủ đầu tư, còn gọi lợi ích kinh tế ảnh hưởng đến quyền lợi của xã hội, của cộng đồng. Tính mạo hiểm: hoạt động đầu tư có thời gian tương đối dài, thường từ 2 năm trở lên, có thể đến 50 năm, nhưng tối đa cũng không quá 70 năm. Những hoạt động ngắn hạn trong vòng một năm tài chính không được gọi là đầu tư. Do thời gian đầu 11 tư dài nên nó có tính mạo hiểm.
Quá trình tiến hành hoạt động đầu tư chịu tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khiến cho kết quả đầu tư khác với dự tính ban đầu và rất có thể lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế xã hội thu được sẽ thấp, thậm chí là lỗ. Chủ đầu tư trước khi ra quyết định đầu tư phải dám chấp nhận rủi ro, thất bại. Trong thực tiễn, hoạt động đầu tư rất đa dạng và phong phú, được thể hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau như: chủ thể đầu tư, hình thức và lĩnh vực đầu tư. Mặc dù đa đạng song hoạt động đầu tư có thể chia thành những loại chính như sau: Phân loại theo chủ thể hoạt động đầu tư bao gồm: Đầu tư của Nhà nước, đầu tư của doanh nghiệp và đầu tư cá nhân.
Phân loại theo quan hệ quản lý của chủ đầu tư, có thể chia thành: “Đầu tư gán tiếp” là trường hợp người bỏ vốn không trực tiếp quản trị vốn mà họ đã bỏ ra. Do vậy, họ cũng không trực tiếp tham gia quản lý điều hành quá trình thực hiện đầu tư.Đây là hình thức đầu tư mà người bỏ vốn và người sử dụng nguồn vốn là những chủ thể riêng biệt. “Đầu tư trực tiếp” là trường hợp người bỏ vốn trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình thực hiện và vận hành các kết quả đầu tư. Loại đầu tư này, người bỏ vốn và người sử dụng vốn là cùng một chủ thể.
Phân loại theo hình thức đầu tư có: hình thức đầu tư mới; hình thức đầu tư chiều sâu, mở rộng quy mô sản xuất. Trong đó, đầu tư mới là hoạt động bỏ vốn để xây dựng các công trình mới hoặc đơn vị sản xuất kinh doanh có đầy đủ tư cách pháp nhân. Hình thức đầu tư chiều sâu, mở rộng quy mô sản xuất là hoạt động bỏ vốn để mở rộng công trình cũ đang hoạt động, tăng thêm mặt hàng, nâng cao năng suất, hay hiện đại hóa, đồng bộ hóa dây chuyền công nghệ trên cơ sở các công trình đã có từ trước. Phân loại theo nguồn vốn đầu tư thì Đầu tư bao gồm: đầu tư bằng nguồn vốn nước ngoài và đầu tư bằng nguồn vốn trong nước.
Mặc dù có nhiều cách phân loại về đầu tư, tuy nhiên đầu tư đều mang những đặc điểm chung như đã phân tích ở trên, đều giữ vai trò quan trọng đối với nền kinh tế và doanh nghiệp.2 Những vấn đề lý luận về bảo đảm đầu tư 1.1 Khái niệm bảo đảm đầu tư Bảo đảm đầu tư là một nội dung vô cùng quan trọng mà các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm khi quyết định đầu tư, giúp các nhà đầu tư yên tâm vì lợi ích được đảm bảo. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành của Việt Nam lại chưa có một văn bản nào đưa ra khái niệm cụ thể về bảo đảm đầu tư mà chỉ dừng lại ở việc đưa ra các quy định về các biện pháp bảo đảm đầu tư, cụ thể quy định từ Điều 9 đến Điều 14 Luật Đầu tư Việt Nam.