Chương 1 SỰ HÌNH THÀNH VÀ NHỮNG BIẾN ĐỔI VỀ CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA THỊ XÃ QUY NHƠN TỪ NĂM 1898 ĐẾN NĂM 1975 1. Quá trình hình thành thị xã Quy Nhơn Hiện nay Quy Nhơn là đô thị loại một, là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Bình Định. Vậy trước năm 1975, thị xã Quy Nhơn được hình thành như thế nào? Những cơ sở, tiền đề để thành lập thị xã Quy Nhơn là gì? 1. Khái quát về điều kiện tự nhiên Quy Nhơn có địa hình đặc sắc, nằm trong khu vực trầm tích đệ tứ của sông Hà Thanh và trầm tích ven biển; ở nội thành có độ cao trung bình từ 1,5m đến 10m; độ dốc địa hình 5%.
Địa hình thấp trũng có cao độ từ -2,5m đến 1,5m, gồm lưu vực sông Hà Thanh, đồng Phú Tài. Địa hình núi cao ở phía tây có núi Bà Hỏa, núi Vũng Chua, núi Hòn Chà, núi Bầu Cấm; về phía đông là bán đảo Triều Châu có các núi Chóp Vung, Mũi Yến, Cột Cờ độ cao từ 50 đến 300m. Quy Nhơn có nhiều thế đất khác nhau, có đủ các yếu tố cảnh quan địa lý như núi rừng, gò đồi, đồng ruộng, ruộng muối, ghềnh bãi, đầm, hồ, sông ngòi, biển, bờ biển, đảo và bán đảo… Quy Nhơn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, do ảnh hưởng trực tiếp của biển nên khí hậu điều hòa dễ chịu. Một năm có hai mùa, mùa nắng từ tháng 1 đến tháng 8, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 chiếm 80% lượng mưa cả năm.
Nhiệt độ trung bình hàng năm 26,7 0C, nhiệt độ cao tối đa 39,90C và thấp tuyệt đối 15 0C; tổng số ngày không có nắng trung bình 36,5 ngày, hầu như nắng quanh năm. Lượng mưa trung bình hàng năm 1700 mm. Hướng gió chính là đông - đông nam và bắc - tây bắc (tháng 10 - 12), giữa hai 9 mùa là đợt gió khô nóng các tháng 6,7,8 trong năm có 37 ngày. Quy Nhơn nằm trong vùng chịu cơn bão trực tiếp từ biển Đông.
Quy Nhơn có hai con sông, phía bắc là phần hạ lưu sông Côn đổ ra đầm Thị Nại. Sông Côn được xem là ranh giới giữa huyện Tuy Phước và thành phố Quy Nhơn ngày nay. Sông Hà Thanh chảy qua phía bắc của trung tâm thành phố, là một con sông ngắn nối hồ Đèo Son với đầm Thị Nại, sông dài 48 km, có lưu vực 548 km2, mùa hè bị cạn nước nhưng mùa mưa nước chảy xiết thường gây ra lũ lụt. Cư dân và đời sống xã hội Trước khi trở thành thị xã, ở Quy Nhơn đã diễn ra quá trình lập làng và một số thôn xã, đến thế kỉ XIX thì hoàn thành về cơ bản.
Các làng nông nghiệp được thành lập muộn ở bán đảo Triều Châu bao gồm: Hưng Lương, Xương Lý, Thanh Châu (Cù lao Xanh); còn các làng nông nghiệp và ngư nghiệp ở trung tâm đất liền, dân cư đã đi vào thế ổn định. Đối với hai làng Chánh Thành và Cẩm Thượng ở trung tâm thành phố hiện nay, quá trình tụ cư và phân hóa xã hội diễn ra hết sức mạnh mẽ trong suốt thế kỉ XIX. Từ thời Minh Mạng, Quy Nhơn là một thương cảng lớn có tầm vóc quốc tế, nhất là hoạt động thương mại giữa Trung Quốc và nước ta.Việc tiếp nhận tầng lớp Hoa thương ở Nước Mặn và Gò Bồi quy tụ về đây để buôn bán sau khi cửa Kẻ Thử bị lấp, cửa Thị Nại độc quyền đưa đón tàu thuyền làm cho Quy Nhơn nhanh chóng phát triển.Thuyền buôn của các tỉnh duyên hải đông nam Trung Quốc như Quảng Đông, Phúc Kiến, Hải Nam… phát hiện ra một thị trường hấp dẫn ở phía nam đầm Thị Nại nên thường xuyên lui tới buôn bán. Thời Minh Mạng bắt đầu có một nhóm người Hoa tới làm ăn sinh sống, từ đó làn sóng người Hoa đến Quy Nhơn diễn ra dồn dập.
Đến thời Thiệu Trị về sau, Quy Nhơn là một trong những đô thị sung sức của Việt Nam trong khả năng tiếp nhận Hoa kiều đến cư trú, buôn bán. Các Hội quán Quỳnh Phủ, 10 Triều Châu, Quảng Đông, Phúc Kiến, Ngũ Bang và các đền chùa khác của người Hoa được xây dựng và trùng tu liên tục trong nhiều thập niên vào nửa sau thế kỉ XIX. Người Hoa đến Quy Nhơn mua đất, làm nhà, dựng phố, mở cửa hàng, cửa hiệu, thành lập các đại lý, xí nghiệp, công ty. Cộng đồng người Hoa tùy theo nguyên quán, họ lập các Bang riêng để sinh hoạt.
Khu địa cư chính của họ ở phường Trần Hưng Đạo, Ngô Thời Nhiệm, Đào Duy Từ ngày nay.Các nhóm cộng đồng người Hoa sống xen kẽ với cư dân Việt trên phần đất mua được của các làng, đặc biệt là làng Cẩm Thượng, Chánh Thành. Nhà cửa, phố xá, hội quán của họ bên cạnh các gia đình, cửa hiệu, đình chùa của người Việt trên các đường phố đã thể hiện một ý thức lâu dài chung sống ở Quy Nhơn, cùng sự chan hòa, cảm hóa sâu sắc của người Việt ở Quy Nhơn. Hơn hai thập kỉ cuối cùng của thế kỉ XIX, người Pháp đã thông cửa Quy Nhơn, tình hình xã hội của Quy Nhơn có những chuyển biến quan trọng. Các quan chức thực dân và tư bản Pháp trở thành tầng lớp trên của xã hội.
Chính sách khai thác thuộc địa và chiếm lĩnh thị trường của thực dân Pháp nhanh chóng làm biến đổi kết cấu kinh tế - xã hội ở Quy Nhơn. Những biến đổi trong đời sống xã hội khi người Pháp xuất hiện ở Quy Nhơn với tư cách là một tầng lớp đại diện cho chế độ thống trị của thực dân và là chủ tư bản của chính sách khai thác thuộc địa đã gây ra những mâu thuẫn gay gắt trong nhân dân. Vì vậy, nhân dân Quy Nhơn đã tham gia vào các phong trào yêu nước chống Pháp như: phong trào Cần vương ở Bình Định (1885) do Đào Doãn Địch (sau đó là Mai Xuân Thưởng) lãnh đạo, cuộc khởi nghĩa Võ Trứ (1898). Đặc biệt là hàng nghìn người dân Quy Nhơn hưởng ứng hoặc thậm chí là tham gia các cuộc đấu tranh của những người thợ thủ công và người lao động bị cưỡng trưng xây dựng các công sở, nhà máy của Pháp ở Quy Nhơn.
Sự thành lập thị xã Quy Nhơn Vào nửa đầu thế kỉ XIX, ở Quy Nhơn diễn ra một quá trình tụ cư lâu dài của hàng trăm năm trước đó, người Việt đã đến lập làng, xây dựng đình chùa phục vụ cho đời sống tâm linh của cộng đồng mình, tiêu biểu là ngôi đền Quan Thánh đế quân tại thôn Vĩnh Khánh vào năm 1837. Cũng vào năm 1837, ở Quy Nhơn đã hình thành đô thị thương nghiệp với nhiều hiệu buôn, nhiều chủ thuyền và nhiều quan chức Nhà nước tham gia hoạt động thương mại. Tất cả các luồng buôn đều quy tụ về đây, tập trung một đội ngũ thương nhân đông đảo, phố chợ ra đời, Quy Nhơn được xác lập bởi chức danh phố trưởng mà viên thị trưởng lúc đó có tên là Trần Đức Hiệp. Đền Quan Thánh là ngôi đền mang tầm vóc của một tỉnh, một khu vực do viên quan Tổng đốc Đại thần đại diện của Triều đình mới đứng ra tổ chức xây dựng cùng quan phụ trách thuyền bè, buôn bán là cai trưởng Ngô Văn Phóng.
Đặc biệt có chức Phố trưởng Trần Đức Hiệp của đô thị này là một trong ba chức danh tiêu biểu cho Quy Nhơn và cả hai tỉnh Bình Định và Phú Yên lúc đó đều “thành tâm ăn chay niệm Phật” để xây dựng ngôi đền. Chức danh phố trưởng là chức danh đặt cho một cơ chế quản lý đô thị dưới triều Nguyễn lần đầu tiên tìm thấy ở Quy Nhơn.Quá trình hình thànhthị xã Quy Nhơn nửa đầu thế kỉ XIX đã diễn ra một cách liên tục. Các hiệu buôn, cửa hàng, phố xá, hội quán… chuyển dần về khu trung tâm giữa bến cảng thuộc đất của làng Cẩm Thượng để tiện lợi cho các hoạt động doanh thương. Có thể lấy hai tuyến đường Bạch Đằng và Trần Hưng Đạo ngày nay xem như một ước lệ về sự quy hoạch thị xã Quy Nhơn nửa đầu thế kỉ XIX.
Hai dãy phố chính theo trục đông - tây với các cửa hàng, cửa hiệu, hội quán, đền chùa san sát hình thành một khu đô thị thương nghiệp, đô thị văn hóa. Cắt xẻ theo chiều ngang thành các ô bàn cờ là các đường hiện nay mang tên Nguyễn Văn Bé, Lê Lợi, Trần Cao Vân, Đào Duy Từ, Mai Xuân Thưởng, 12 Phan Đình Phùng. Phía đông giới hạn bởi đường Lê Lợi, phía Tây là đường Phan Đình Phùng, được xác định bởi hai kiến trúc cổ:chùa Ông Nhiêu (đền Quan Thánh) về phía đông và chùa Long Khánh ở phía nam khoảng cách bề rộng chừng 500m trải dài lên phía tây chừng 1 km theo hai đường Bạch Đằng và Trần Hưng Đạo. Đó là khu đô thị cổ Quy Nhơn nửa đầu thế kỉ XIX.
Vào nửa sau thế kỉ XIX, ở Quy Nhơn tiếp tục diễn ra quá trình đô thị hóa. Đới sống kinh tế, văn hóa, xã hội của Quy Nhơn thông qua bộ mặt kiến trúc đô thị có sự biến đổi to lớn. Số lượng người Hoa đến Quy Nhơn phát triển rất nhanh chóng, các Hội quán của người Hoa tiếp tục được trùng tu như: Quỳnh Phủ Hội quán (1887), Quảng Đông Hội quán (1887), Ngũ Bang Hội quán (1901), Phúc Kiến Hội quán (1904). Người Hoa sống tập trung chủ yếu giữa hai con đường Bạch Đằng và Trần Hưng Đạo ngày nay.
Họ không quy tụ thành khối nhóm đơn thuần như ở Huế, Hội An mà xen kẽ với người Việt. Có lẽ tùy theo khả năng tài chính mà họ mua lại đất của các sở hữu chủ ở làng Cẩm Thượng để làm nhà, dựng phố. Do đó, họ nhanh chóng Việt hóa trong môi trường xen cư và quan hệ thân thiện với người Việt ở Quy Nhơn. Ngày 15/3/1874, triều đình nhà Nguyễn kí với Pháp bản Hiệp ước Giáp Tuất, cửa Thị Nại (Quy Nhơn) bị buộc phải mở để người nước ngoài được tự do ra vào buôn bán.
Từ đây, Pháp đặt vị trí cửa khẩu Quy Nhơn cho cả miền Trung, Tây Nguyên và phát triển sang cả Đông Dương. Năm 1876, vua Tự Đức cho phép thực dân Pháp chính thức lập Lãnh sự quán ở Quy Nhơn sau khi thỏa thuận cấp 2,5ha đất làm nhượng địa. Tháng 11/1876, cảng Quy Nhơn chính thức khai trương, nhiều người nước ngoài theo chân người Pháp đến Quy Nhơn ngày càng đông. Đến cuối thế kỉ XIX, cảng thị Quy Nhơn đã phát triển sầm uất, tấp nập; là đầu mối lớn về kinh tế ở các tỉnh Trung Trung bộ.