chương 1. Phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng là nghiên cứu định lượng (phương pháp GMM) với dữ liệu thứ cấp, dạng bảng (Panel Data). Ngoài ra, các kỹ thuật về thống kê mô tả, tổng hợp và so 6 sánh cũng được đề cập để phân tích số liệu trong luận văn. Nội dung cuối cùng của chương 3, tác giả tổng hợp các biến trong mô hình nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Phần đầu của chương 4 tác giả đã khái quát thực trạng hoạt động của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2018 và sau đó, tác giả tiến hành ước lượng, đánh giá mức độ tác động của các yếu tố đến KNSL của các NHTM. Nội dung tiếp theo của chương 4, tác giả sẽ tập trung thảo luận về các biến mang ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5%. Chương 5: Kết luận và kiến nghị.
Chương 5 trình bày tóm tắt những kết quả đã đạt được từ mô hình nghiên cứu cuối cùng. Trên cơ sở đó, tác giả sẽ tiến hành đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao khả năng sinh lời của các NHTM tại Việt Nam. Phần cuối cùng của chương, tác giả nêu lên một số hạn chế và hướng nghiên cứu trong tương lai.7 Đóng góp của nghiên cứu Về mặt khoa học, đề tài làm rõ hơn tác động của các yếu tố đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại. Điểm mới của nghiên cứu này so với nghiên cứu trước là: tác giả có sự cập nhật về dữ liệu với thời gian nghiên cứu gần nhất (2008 – 2018), có sự thay đổi về các biến nghiên cứu dựa trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu trước, nên kết quả ước lượng sẽ có sự cập nhật mới hơn, sát với thời điểm hiện tại để có thể đưa ra đánh giá chính xác nhất.
Đồng thời, tác giả sử dụng phương pháp GMM để ước lượng các nhân tố tác động đến KNSL của các NHTM với tính hiệu quả của phương pháp GMM nhằm khắc phục các khiếm khuyết của mô hình và đảm bảo ước lượng không chệch. Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu sẽ gợi mở những hàm ý chính sách quan trọng cho các cổ đông, nhà quản trị và các cơ quan quản lý nhà nước trong hoạch định chiến lược nhằm nâng cao khả năng sinh lời nói riêng và năng lực cạnh tranh của hệ thống NHTM Việt Nam.8 Khoảng trống trong nghiên cứu Các nghiên cứu trên cho thấy việc nghiên cứu về các yếu tố tác động đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại là vấn đề không mới, nhưng thu hút sự quan tâm của rất nhiều học giả. Tùy thuộc quan điểm và yêu cầu nghiên cứu, các học giả đã đánh giá hiệu quả hoạt động, hay nói khác hơn là khả năng sinh lời của NHTM thông qua nghiên cứu chi tiết một hoặc nhiều khía cạnh khác nhau. Mặc dù cùng mục tiêu nghiên cứu, nhưng các kết quả chỉ ra không hoàn toàn thống nhất, thậm chí là đưa ra kết quả trái ngược về các nhân tố ảnh hưởng và chiều hướng tác động đến khả năng sinh lời của NHTM.
Thực tế này xuất phát từ việc các học giả thực hiện ở các quốc gia và/hoặc ở khoảng thời gian khác nhau, sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau. Ngoài ra, các nghiên cứu liên quan đến NHTM Việt Nam còn ít và thời gian của bộ dữ liệu nghiên cứu khá ngắn (6 – 7 năm) và không được cập nhật (từ 2016 trở về trước). Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trên, tác giả vận dụng và bổ sung cho khoảng trống (cả về các nhân tố tác động và thời gian nghiên cứu) trong bối cảnh và phạm vi nghiên cứu tại các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2018. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Cơ sở lý thuyết về khả năng sinh lời 2.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại ra đời và phát triển gắn liền với nền sản xuất hàng hoá, nó kinh doanh loại hàng hoá rất đặc biệt đó là lĩnh vực tài chính – tiền tệ.
Thực tế các NHTM kinh doanh “quyền sử dụng vốn tiền tệ”. Nghĩa là, NHTM nhận tiền gửi của công chung, của các tổ chức kinh tế, xã hội và sử dụng số tiền đó để cho vay và làm phương tiện thanh toán với những điều kiện ràng buộc là phải hoàn trả lại vốn gốc và lãi nhất định theo thoả thuận. NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gởi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng (TCTD) - Luật số: 47/2010/QH12, nhằm mục tiêu lợi nhuận (Quốc hội, 2010).
Các ngân hàng thương mại được phân biệt với các tổ chức tài chính khác chủ yếu bằng cách chấp nhận tiền gửi không kỳ hạn. Tiền gửi cung cấp cho họ tiền nhưng trách nhiệm của họ đối với tính thanh khoản và an toàn của tiền gửi làm hạn chế việc sử dụng các khoản tiền này. Các NHTM cung cấp các sản phẩm dịch vụ tài chính đa dạng và hiện đại cho các chủ thể trong nền kinh tế, chẳng hạn như dịch vụ truy vấn thông tin, dịch vụ thanh toán, dịch vụ tiền gửi, dịch vụ cho vay, chuyển tiền, dịch vụ thẻ, dịch vụ tư vấn tài chính… Trong các hoạt động nói trên, hai hoạt động chính của các ngân hàng là huy động vốn và hoạt động tín dụng. Mặc dù hiện nay đã có sự chuyển dịch trong cơ cấu thu nhập của các NHTM từ hoạt động cho vay sang các hoạt động khác (thanh toán quốc tế, thẻ…), nhưng tỷ trọng thu nhập từ hoạt động tín 9 dụng vẫn đóng góp 60% - 80% thu nhập chung của ngân hàng (Hồ Diệu, 2002).
Điều này được phản ánh qua hình 2. 1: Các nghiệp vụ chủ yếu của NHTM Nguồn: Lê Thị Diễm Chi, 2009 Hình 2.1 cho thấy tổng thu nhập trừ tổng chi phí sẽ là lợi nhuận trước thuế của NHTM, trong đó thu nhập của hoạt động sử dụng vốn chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu nhập của NHTM. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, KNSL được xem xét lợi nhuận của ngân hàng đến từ các hoạt động tín dụng và các hoạt động phi tín dụng (sau khi đã trừ các chi phí hoạt động).2 Cơ sở lý thuyết về khả năng sinh lời Khả năng sinh lời là quá trình nghiên cứu để đánh giá toàn bộ quá trình và hiệu quả kinh doanh tại ngân hàng nhằm làm rõ chất lượng các hoạt động kinh doanh và các nguồn tiềm năng cần khai thác, từ đó, đề ra các phương án và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Phân tích KNSL là cơ sở để ra các quyết định kinh doanh trong tương lai, và cũng là công cụ quan trọng trong những chức năng quản trị có hiệu quả ở NHTM.
KNSL là mục tiêu cuối cùng của các ngân hàng nói riêng và các tổ chức nói chung (trừ các tổ chức kinh doanh không vì mục tiêu lợi nhuận). Thông qua các chỉ tiêu KNSL, các bên có liên quan, như các cổ đông, nhà đầu tư, ngân hàng, đối thủ cạnh tranh, nhân viên… có thể đánh giá khách quan về kết quả thực hiện hoạt động kinh doanh của chính ngân hàng so với kế hoạch đặt ra hoặc giữa thực tế đạt được so với tình hình thực hiện kỳ trước. Ngoài ra, căn cứ vào yếu tố KNSL, ban lãnh đạo ngân hàng sẽ phân tích những nhân tố nội tại và khách quan đã ảnh hưởng tình hình thực hiện kế hoạch, phân tích hiệu quả các phương án kinh doanh hiện tại và các dự án đầu tư dài hạn. Từ đó, xây dựng kế hoạch dựa trên kết quả phân tích và lập các báo cáo kết quả phân tích, thuyết minh và đề xuất đối với hội đồng quản trị.
Nội dung của phân tích khả năng sinh lời tại NHTM là đánh giá quá trình hướng đến kết quả hoạt động kinh doanh với sự tác động của các yếu tố ảnh hưởng, được biểu hiện qua các chỉ tiêu kinh tế. KNSL được đo lường bằng tổng thu nhập sau khi trừ tổng chi phí hoạt động.1 Thu nhập của ngân hàng thương mại Thu nhập của ngân hàng là khoản tiền thu được từ hoạt động kinh doanh của ngân hàng như cho vay tiền, đầu tư cung cấp dịch vụ. Các khoản thu nhập của NHTM từ các hoạt động: + Các khoản thu từ hoạt động tín dụng (thu lãi cho vay, thu lãi chiết khấu, phí cho thuê tài chính, phí bảo lãnh…). 11 + Các khoản thu từ hoạt động từ dịch vụ thanh toán và ngân quỹ (thu lãi tiền gửi, dịch vụ thanh toán, dịch vụ ngân quỹ…) + Các khoản thu từ hoạt động khác: thu từ lãi góp vốn, mua cổ phần; thu từ mua bán chứng khoán; thu từ kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc đá quý; thu từ dịch vụ tư vấn; thu từ các hoạt động kinh doanh bảo hiểm; thu từ dịch vụ ngân hàng khác (bảo quản cho thuê tủ két sắt, cầm đồ…).
Trong đó, thu nhập từ lãi tiền vay làkhoản thu nhập quan trọng nhất cho các NHTM, chiếm 2/3 tổng nguồn thu của ngân hàng. Đây cũng là khoản mục quyết định lãi suất cơ bản ròng – sự chênh lệch giữa mức lãi thu và mức lãi phải chi. Thu từ hoạt động kinh doanh.2 Chi phí của ngân hàng thương mại Chi phí là toàn bộ tài sản, tiền bạc bỏ ra để thực hiện một quá trình sản xuất kinh doanh. Nghiệp vụ ngân hàng là một ngành công nghiệp dịch vụ mang tính nhân văn rất cao, tạo cho chi phí dịch vụ của các ngân hàng thương mại thực hiện mang tính ổn định, đặc biệt là trong thời gian ngắn.
Chi phí hoạt động của NHTM gồm: + Chi phí về hoạt động huy động vốn: trả lãi tiền gửi; trả lãi tiền tiết kiệm; trả lãi tiền vay; trả lãi kỳ phiếu, trái phiếu… + Chi phí cho dịch vụ thanh toán và ngân quỹ: chi về dịch vụ thanh toán; chi về ngân quỹ (vận chuyển, kiểm đếm, bảo vệ, đóng gói…); cước phí bưu điện về mạng viễn thông; chi về dịch vụ khác. + Chi phí cho hoạt đông khác: chi cho mua bán chứng khoán; chi cho kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc, đá quý.