phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục từ viết tắt, và phụ lục nội dung của luận văn gồm ba chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về Kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp e 8 dịch vụ. Chƣơng 2: Thực trạng Kế toán quản trị chi phí tại Khách sạn Bình Dƣơng. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện Kế toán quản trị chi phí tại Khách sạn Bình Dƣơng.
e 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP DỊCH VỤ 1. KHÁI QUÁT VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP 1. Bản chất của Kế toán quản trị chi phí Hiệp hội kế toán quốc gia Hoa Kỳ (2015) định nghĩa: “KTQT là một bộ phận của hệ thống kế toán. Chính vì vậy, xét một cách tổng quát, KTQTCP là một bộ phận của hoạt động quản trị doanh nghiệp về chi phí.
Nội dung của KTQTCP là quá trình định dạng, đo lƣờng, ghi chép và cung cấp các thông tin chi phí hoạt động kinh tế của một tổ chức”. Luật Kế toán Việt Nam (2015) KTQT là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán. Theo giáo trình “Kế toán quản trị” của Nguyễn Tấn Bình (2017) định nghĩa: “KTQTCP là một bộ phận của hệ thống KTQT nhằm cung cấp thông tin chi tiết về chi phí để mỗi tổ chức thực hiện chức năng quản trị yếu tố nguồn lực sử dụng cho các hoạt động, nhằm xây dựng kế hoạch, kiểm soát, đánh giá hoạt động và ra các quyết định hợp lý.” Theo tạp chí Nhà xuất bản trẻ “Đƣờng vào nghề kế toán” của Đặng Thị Hòa (2016) cho rằng: KTQTCP quan tâm đến việc lập dự báo của thông tin và trách nhiệm của Nhà quản trị các cấp nhằm gắn trách nhiệm của họ với chi phí phát sinh qua hệ thống trung tâm chi phí đƣợc cung cấp. KTQTCP sẽ trả lời các câu hỏi nhƣ: Chi phí là bao nhiêu, biến động nhƣ thế nào khi có sự thay đổi của một nhân tố; Trách nhiệm giải thích những sự thay đổi bất lợi của chi phí thuộc về ai và cần có các giải pháp nào để điều chỉnh sự thay đổi chi phí đó.
e 10 Tóm lại, KTQTCP là một môn khoa học thu thập, xử lý, tổng hợp, phân tích, cung cấp các thông tin định lƣợng kết với định tính về hoạt động của doanh nghiệp giúp các Nhà quản trị ra quyết định trong việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện các đơn vị. Để có thể cung cấp thông tin cho Nhà quản trị trong việc ra quyết định ngắn hạn đúng đắn, hoạch định chiến lƣợc kinh doanh dài hạn phù hợp đòi hỏi mô hình KTQTCP phải cung cấp những thông tin tối ƣu. Do đó, khi xây dựng mô hình KTQTCP phải đáp ứng đƣợc một số yêu cầu sau: Thứ nhất, đảm bảo tính khái quát. Theo đó, mô hình đƣợc xây dựng phải phản ánh đƣợc những nội dung cơ bản thể hiện đƣợc vai trò của công tác KTQTCP.
Mục đích của việc xây dựng mô hình nhằm giúp các Nhà quản trị doanh nghiệp nhận diện và kiểm soát đƣợc chi phí sản xuất kinh doanh (SXKD). Qua đó, cung cấp đầy đủ, kịp thời những thông tin về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm giúp các Nhà quản trị ra các quyết định điều hành cũng nhƣ các quyết định có tính chiến lƣợc. Vì vậy, tính khái quát của mô hình KTQTCP phải cung cấp đƣợc những thông tin đảm bảo tính trung thực, hợp lý và tính kịp thời. Thứ hai, đảm bảo tính đơn giản.
Tính đơn giản của mô hình KTQTCP đƣợc gắn với trình độ của đội ngũ kế toán, năng lực của các Nhà quản trị và quy trình của hoạt động SXKD của doanh nghiệp. Thứ ba, phải cung cấp đƣợc các thông tin tổng hợp và chi tiết theo yêu cầu của Nhà quản trị. Quản trị doanh nghiệp là một hoạt động khép kín từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm tra, đánh giá việc thực hiện. Mô hình KTQTCP đƣợc xây dựng phải trở thành một công cụ hỗ trợ đắc lực cho các Nhà quản trị.
Thông tin từ mô hình đƣợc thu thập, xử lý phải trung thực, kịp thời và chi tiết theo yêu cầu của Nhà quản trị. Bên cạnh đó, KTQTCP là một công cụ cung cấp thông tin cho các cấp e 11 quản trị trong nội bộ doanh nghiệp nên khi xây dựng cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau: Một là, đảm bảo tính khách quan và phù hợp với đặc điểm hoạt động SXKD của doanh nghiệp: Hoạt động của doanh nghiệp rất đa dạng và phong phú. Mỗi doanh nghiệp, mỗi lĩnh vực sản xuất có quy trình công nghệ sản xuất khác nhau. Do đó, việc xây dựng mô hình KTQTCP phải dựa trên cơ sở các nguyên tắc phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp, từ đó mới phát huy đƣợc vai trò là công cụ đắc lực cho các Nhà quản trị.
Hai là, đáp ứng đƣợc nhu cầu thông tin đa dạng của các Nhà quản trị và mục tiêu kiểm soát chi phí của doanh nghiệp: Trong môi trƣờng kinh doanh cạnh tranh khốc liệt, nhu cầu cung cấp thông tin mà các Nhà quản trị rất đa dạng để ra các quyết định khác nhau từ các quyết định điều hành thƣờng nhật đến việc hoạch định các chiến lƣợc phát triển của doanh nghiệp. Nhu cầu đó đòi hỏi hệ thống KTQTCP phải vừa cung cấp đƣợc những thông tin chi tiết, cụ thể về từng hoạt động trong doanh nghiệp, vừa phải cung cấp những thông tin mang tính khái quát, so sánh, đánh giá các mặt hoạt động của doanh nghiệp… Ba là, đảm bảo nguyên tắc hiệu quả và tiết kiệm: Để xây dựng và vận hành mô hình KTQTCP, các doanh nghiệp sẽ phải có những đầu tƣ về nhân lực, vật lực, phải có những thay đổi trong cách thức quản lý và tổ chức công tác kế toán. Tuy nhiên, mô hình KTQTCP cần có sự kết hợp hài hòa với hệ thống kế toán tài chính (KTTC), không gây khó khăn trong việc tổ chức công tác kế toán chung, không quá tốn kém nhƣng đảm bảo thông tin phải đƣợc cung cấp một cách hiệu quả. Nhiệm vụ của Kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp Chúng ta biết rằng những ngƣời chủ sở hữu và các Nhà quản lý của tổ chức chịu trách nhiệm trong việc xác định mục tiêu hoạt động của tổ chức, do đó tùy thuộc vào từng thời điểm mà mục tiêu của Nhà quản trị sẽ khác nhau e 12 nhƣ: Tối đa hóa lợi nhuận hoặc đạt đƣợc mức lợi nhuận mong muốn; Nâng cao chất lƣợng sản phẩm; Duy trì sự tồn tại của doanh nghiệp… Cho dù mục tiêu hoạt động của một tổ chức nhƣ thế nào thì công việc của các Nhà quản trị là phải đảm bảo các mục tiêu đƣợc thực hiện.
Trong quá trình theo đuổi mục tiêu của tổ chức, các Nhà quản trị thực hiện bốn hoạt động: Lập kế hoạch, Tổ chức và điều hành, Kiểm soát, Ra quyết định. - Lập kế hoạch: Trong giai đoạn này Nhà quản trị cần các thông tin kế toán để lập kế hoạch bán hàng nhƣ: Số lƣợng sản phẩm tiêu thụ, chi phí bán hàng, chi phí sản xuất, giá bán dự kiến. Thông tin kế toán cung cấp cho Nhà quản trị cần là lƣợng khách hàng hiện có, doanh số tiêu thụ của các khách hàng chủ lực, đơn giá bán, chi phí sản xuất thời gian qua. Bên cạnh đó, thông tin kế toán chi phí còn làm cơ sở xây dựng định mức theo phƣơng pháp lịch sử và dự báo chi phí cho thời kỳ kế hoạch.
Trên cơ sở kế hoạch tiêu thụ Nhà quản trị sẽ lập các kế hoạch khác nhƣ: Kế hoạh sản xuất, kế hoạch cung ứng nguyên vật liệu, kế hoạch sử dụng lao động,….Các thông tin kế toán chi tiết cung cấp cho việc lập kế hoạch SXKD, là các thông tin có thể lƣợng hóa đƣợc và có độ tin cậy cao cùng với các phƣơng pháp dự báo khác của Nhà quản trị, làm cơ sở quan trọng cho việc lập kế hoạch của doanh nghiệp. - Tổ chức và điều hành các hoạt động: Trong việc tổ chức, Nhà quản trị sẽ quyết định cách liên kết tốt nhất giữa tổ chức, con ngƣời với các nguồn lực lại với nhau sao cho kế hoạch đƣợc thực hiện có hiệu quả nhất. Trong việc điều hành, các Nhà quản trị giám sát hoạt động hàng ngày và giữ cho cả tổ chức hoạt động trôi chảy. Yêu cầu của thông tin kế toán là kịp thời, trung thực,.
là một trong những công cụ cho Nhà quản trị điều hành hoạt động của đơn vị. Chẳng hạn, số liệu trên sổ chi tiết chi phí nguyên vật liệu cho biết lƣợng vật liệu đã sử dụng, đơn giá xuất kho,. Thông tin này, làm cơ sở cho e 13 Nhà quản trị tiếp tục mua hàng của nhà cung cấp trƣớc hay không, số lƣợng cần mua thêm, mức tiêu hao nguyên vật liệu, để tiếp tục sản xuất phù hợp với kế hoạch tiêu thụ. Thông tin trên sổ chi tiết chi phí có thể làm cơ sở theo dõi tiến độ chi phí, chi phí thực tế làm cơ sở điều hành hoạt động của đơn vị.
- Kiểm soát: Để thực hiện chức năng kiểm tra, các Nhà quản trị sử dụng các bƣớc công việc cần thiết để đảm bảo cho từng bộ phận và cả tổ chức đi theo đúng kế hoạch đã vạch ra. Trong quá trình kiểm soát, Nhà quản trị sẽ so sánh hoạt động thực tiễn với kế hoạch đã thiết lập, thông qua đó, chỉ ra ở khâu nào công việc thực hiện chƣa đạt yêu cầu, và cần sự hiệu chỉnh để hoàn thành nhiệm vụ và mục tiêu đã thiết lập. Thông tin các sổ chi tiết làm cơ sở so sánh giữa kế hoạch và thực hiện; giữa chi phí thực tế và chi phí dự toán, giữa chi phí kỳ này với kỳ khác, giữa bộ phận này với bộ phận khác, giữa sản phẩm này với sản phẩm khác,. Thông qua số liệu của kế toán giúp Nhà quản trị có thể kiểm soát chi phí hoạt động của đơn vị một cách khách quan, đồng thời làm cơ sở hoạch định chi phí cho các kỳ tiếp theo.
- Ra quyết định: Ra quyết định là việc thực hiện những lựa chọn hợp lý trong số các phƣơng án khác nhau. Ra quyết định không phải là một chức năng riêng biệt, nó là một chức năng quan trọng, xuyên suốt các khâu trong quá trình quản trị một tổ chức, từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện cho đến kiểm tra đánh giá.