CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1. Khái quát chung về kế toán quản trị chi phí 1.Các khái niệm cơ bản 1.Kế toán Kế toán xuất hiện cùng với sự hình thành đời sống kinh tế xã hội và sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật. Kế toán- một môn khoa học đã có những sự thay đổi về nội dung, phương pháp. Trong các tài liệu, sách kinh tế có thể gặp những định nghĩa về kế toán ở những phạm vi, góc độ khác nhau như: Trên góc độ khoa học có khái niệm: Theo Ronald.Thacker, viết trong cuốn Nguyên lý kế toán Mỹ thì: “Kế toán là một phương pháp cung cấp thông tin cần thiết cho quản lý có hiệu quả và đánh giá hoạt động của mọi tổ chức” (Giáo trình Kế toán tài chính, Học viện tài chính, 2010).
Trên góc độ công việc có các khái niệm sau: Theo Liên đoàn Kế toán quốc tế: “Kế toán là nghệ thuật ghi chép, phân loại, tổng hợp theo một cách riêng có bằng những khoản tiền, các nghiệp vụ và các sự kiện mà chúng có ít nhất một phần tính chất tài chính và trình bày kết quả của nó” (Giáo trình Kế toán tài chính, Học viện tài chính,2010). Luật kế toán Việt Nam, 2003 cho rằng: “Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động.” Từ những quan điểm trên có thể rút ra khái niệm về kế toán như sau: “Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích tất cả các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh trong doanh nghiệp, qua đó tổng hợp cung cấp thông tin bằng ngôn ngữ riêng giúp cho bên trong và ngoài doanh nghiệp có thể nắm bắt tình hình hoạt động trong đơn vị để đưa ra các quyết định kinh doanh”. Mục đích cơ bản của kế toán là phân tích và giải thích các sự kiện kinh tế phát sinh trong doanh nghiệp bằng cách quan sát, thu thập và xử lý các thông tin ban đầu 8 để tạo ra thông tin mới có tính hệ thống, tổng hợp, phản ánh được một cách toàn diện tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hoạt động kế toán có chức năng thông tin và kiểm tra.
Sử dụng các thông tin do kế toán cung cấp, các nhà quản trị có căn cứ để nhận thức đúng đắn, khách quan, kịp thời và có hệ thống các hoạt động sản xuất – kinh doanh, đảm bảo lựa chọn được các quyết định hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp. Kế toán không chỉ giới hạn ở việc ghi chép tính toán thuần tuý hay cung cấp thông tin kinh tế, mà còn thể hiện ở sự kiểm tra , kiểm soát đối với các hoạt động sản xuất – kinh doanh, sử dụng và bảo vệ tài sản trong doanh nghiệp, đảm bảo cho các hoạt động trong doanh nghiệp có hiệu quả thiết thực, đúng hướng và đúng pháp luật. Đối với doanh nghiệp, có hai hệ thống kế toán được sử dụng là: kế toán tài chính và kế toán quản trị. Hai hệ thống này được thiết lập để đáp ứng những nhu cầu thông tin cho các đối tượng khác nhau, nhưng có quan hệ với nhau trong hoạt động quản trị doanh nghiệp.
Cả hai hệ thống kế toán này đều là nguồn thông tin phục vụ cho quản trị tài chính và thực hiện các thủ tục theo chế độ quy định. Trong mỗi thời kỳ xem xét, chi phí phát sinh tương ứng với hoạt động của doanh nghiệp là một giá trị cụ thể. Song có những quan điểm tiếp cận khác nhau trong việc nhận dạng các chi phí phát sinh. Các quan điểm tiếp cận này hoàn toàn phụ thuộc vào mục tiêu của đối tượng tiếp cận mà dẫn tới cách nhìn nhận chi phí không hoàn toàn giống nhau.
Kế toán quản trị: Xuất phát điểm của kế toán quản trị là kế toán chi phí, nghiên cứu chủ yếu về quá trình tính toán giá phí sản xuất sản phẩm như giá phí nguyên vật liệu, giá phí sản xuất nhằm đề ra các quyết định cho phù hợp, xác định giá trị tồn kho và kết quả kinh doanh theo từng hoạt động. Cho đến nay , khi bàn về kế toán quản trị có nhiều quan điểm khác nhau như: Theo Ronald W.Hilton, trường Đai học Cornell – Mỹ thì: “ Kế toán quản trị là một bộ phận của hệ thống thông tin quản trị trong tổ chức mà nhà quản trị dựa vào để hoạch định và kiểm soát các hoạt động của tổ chức” (Giáo trình Kế toán quản trị, Đại học Thương Mại, 2006).Garrison viết trong cuốn Managerial Accounting của nhà xuất bản McGraw-Hill năm 2008: “Kế toán quản trị cung cấp tài liệu cho các nhà quản lý là những người bên trong tổ chức kinh tế và có trách nhiệm trong việc điều hành và kiểm soát mọi hoạt động của tổ chức đó” (Giáo trình Kế toán quản trị, Đại học Thương Mại, 2006). Theo các tác giả Jack L.Keith và William L.Stephens ở Đại học South Florida thì :“Kế toán quản trị là một hệ thống kế toán cung cấp cho các nhà quản trị những thông tin định lượng mà họ cần để hoạch định và kiểm soát” (Giáo trình Kế toán quản trị, Đại học Thương Mại, 2006). Luật kế toán Việt Nam, khoản 3, điều 4“ Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp các thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”.
Tóm lại, từ những định nghĩa trên có thể hiểu: “Kế toán quản trị là quá trình thu thập, xử lý và lập các báo cáo nội bộ nhằm cung cấp thông tin phục vụ chủ yếu cho những nhà quản trị bên trong doanh nghiệp, giúp họ đưa ra các quyết định kinh tế và vạch ra kế hoạch cho tương lai phù hợp với chiến lược kinh doanh”. Như vậy, kế toán quản trị hình thành do nhu cầu tự nhiên của doanh nghiệp chứ không có tính bắt buộc về mặt pháp luật. Mặt khác, hệ thống kế toán này không hoàn toàn đồng nhất giữa các doanh nghiệp vì nó được thiết lập tuỳ thuộc đặc điểm hoạt động và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp. Thậm chí, trong một doanh nghiệp, ở những thời kỳ khác nhau cũng có thể có sự điều chỉnh trong hệ thống kế toán quản trị để đảm bảo sự phù hợp với mục tiêu quản trị cũng như đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp ở thời kỳ xem xét.
Đó là lý do để coi hệ thống kế toán quản trị là hệ thống “mềm” đối với doanh nghiệp. Kế toán quản trị chi phí a, Khái niệm chi phí Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam- Chuẩn mực số 01: “Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu” 10 Theo quan điểm của các trường đại học khối kinh tế: Chi phí doanh nghiệp được hiểu là toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp phải chi ra trong quá trình hoạt động kinh doanh, biểu hiện bằng tiền và tính cho 1 thời kỳ nhất định (Giáo trình Kế toán quản trị, Đại học Thương Mại, 2006). Từ những khái niệm trên rút ra: “Chi phí của doanh nghiệp là toàn bộ các giá trị của nguồn lực mà doanh nghiệp đã tiêu hao trong một thời kỳ nhất định cho các hoạt động của doanh nghiệp trong thời kỳ đó. tuỳ theo mục đích quản trị mà thời kỳ xem xét sẽ thay đổi”.
Vậy chi phí được xem như một trong những chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh. Đối với những người quản lý thì chi phí là mối quan tâm hàng đầu, bởi vì lợi nhuận thu được nhiều hay ít chịu ảnh hưởng trực tiếp của những chi phí đã chi ra. Do đó vấn đề được đặt ra là làm sao kiểm soát được các khoản chi phí. Nhận diện, phân tích các hoạt động sinh ra chi phí là điều mấu chốt để có thể quản lý chi phí, từ đó có những quyết định đúng đắn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
b, Khái niệm kế toán quản trị chi phí: Kế toán quản trị chi phí chính là một bộ phận của kế toán quản trị. Theo tác giả Đào Thị Minh Tâm trong bài Kế toán quản trị chi phí và ứng dụng của kế toán quản trị chi phí vào các doanh nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam (Tạp chí Nghiên cứu tài chính- kế toán số 03/2009) thì: “Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của kế toán quản trị chuyên thực hiện việc xử lý và cung cấp thông tin về chi phí nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của nhà quản trị như hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm tra và ra quyết định. Theo Viện kế toán viên quản trị của Mỹ, kế toán chi phí là: “Kỹ thuật hay phương pháp để xác định chi phí cho một dự án, một quá trình hoặc một sản phẩm…Chi phí này được xác đính bằng việc đo lường trực tiếp, kết chuyển tùy ý, hoặc phân bổ một cách có hệ thống và hợp lý”. Theo định nghĩa này, kế toán chi phí không phải là một bộ phận độc lập, mà kế toán chi phí vừa là bộ phận của kế toán 11 tài chính và vừa là một bộ phận của kế toán quản trị.
Bộ phận kế toán chi phí có trong kế toán quản trị được gọi là kế toán quản trị chi phí. Vậy có thể hiểu : “Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của kế toán quản trị nhằm thu thập, xử lý và cung cấp các thông tin về chi phí của doanh nghiệp giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp nắm bắt được tình hình sử dụng chi phí và lập kế hoạch dự toán chi phí cho doanh nghiệp”. Đối tượng và nhiệm vụ của kế toán quản trị chi phí 1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng của kế toán quản trị chi phí là nghiên cứu chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất trong mối quan hệ với việc ra quyết định kinh doanh.
Kế toán quản trị chi phí sản xuất nghiên cứu sâu về chi phí sản xuất của doanh nghiệp như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung. Xây dựng các định mức về dự toán chi phí sản xuất, định mức chi phí sản xuất, kế hoạch sản xuất.