Chương 1: Cơ sở lý luận của kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất - Chương 2: Thực trạng kế toán quản trị chi phí tại Công ty cổ phần Smart - Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty cổ phần Smart. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Việc nghiên cứu về kế toán quản trị nói chung và kế toán quản trị chi phí nói riêng đã được rất nhiều tác giả quan tâm. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về kế toán quản trị đã công bố đều chưa nghiên cứu chuyên sâu về công tác kế toán quản trị chi phí áp dụng cho các doanh nghiệp chuyên sản xuất và cung cấp cửa. Do vậy, vấn đề mà luận văn nghiên cứu là hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí ở các công ty Cổ phần Smart, một đơn vị chuyên sản xuất và lắp đặt các loại cửa cao cấp.
Hầu hết trong các nghiên cứu đều tập trung trong ba nội dung bao gồm: cơ sở lý luận về phương pháp kế toán quản trị, thực trạng công tác kế toán quản trị tại đơn vị và các giải pháp hoàn thiện hệ thống kế toán quản trị chi phí tại đơn vị đó. Tuy nhiên, mỗi luận văn đều có những điểm khác nhau về khả năng vận dụng phương pháp nghiên cứu kế toán quản trị trong các lĩnh vực. Đầu tiên có thể kể đến đó là nghiên cứu trong lĩnh vực xây lắp của tác giả Lê Thị Bích Diễm (2011) về Kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng 501. Trong nghiên cứu này, tác giả đã đề cập đến thực kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng 501và đã chỉ ra được các nhược điểm hiện tại về cách thức tổ chức kế toán quản trị tại công ty.
Từ đó, tác giả đã khắc phục được các nhược điểm và đề xuất các biện pháp xử lý kịp thời nhằm cung cấp thông tin cho việc ra quyết 5 định của các nhà quản trị, hỗ trợ việc nâng cao hiệu quả quản lý của công ty. Nghiên cứu của Cao Thị Mỹ Phú với đề tài “Vận dụng kế toán quản trị chi phí tại công ty cổ phần tư vấn đầu tư và xây dựng Cosevco” đã phân tích thực trạng kế toán quản trị chi phí tại công ty cổ phần tư vấn đầu tư và xây dựng Cosevco. Trên cơ sở thực tế tại Công ty, tác giả đã nêu lên ưu nhược điểm của công tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty, đề xuất ra các phương pháp khắc phục những nhược điểm đó giúp cho nhà quản trị đưa ra các quyết định phù hợp. Trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh sản phẩm inox xây dựng, trang trí nội, ngoại thất, nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Biên (2012) với đề tài “Kế toán quản trị chi phí tại công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn AVSS” đã phân tích thực trạng kế toán quản trị tại công ty.
Tuy nhiên việc ứng dụng kế toán quản trị chi phí trong hoạt động quản lý còn là vấn đề mới mẻ, chưa được triển khai một cách đồng bộ và khoa học. Ở một mức độ nhất định các doanh nghiệp đã vận dụng một số nội dung trong công tác lập dự toán, tính giá và kiểm soát chi phí nhưng chưa khai thác và phát huy hết ưu thế của loại công cụ quản lý khoa học này. Tác giả cũng đã đưa ra các phương pháp khác phục những nhược điểm còn tồn tại và đề ra các phương hướng để hoàn thiện hệ thống kế toán quản trị tại công ty. Trong lĩnh vực chế biến thủy sản, nghiên cứu với đề tài “KTQT CP tại Công ty Công ty Cổ phần Kỹ thuật Thủy sản” cũng phân tích thực trạng KTQT CP tại Công ty.
Kết quả phân tích biến động CP giữa thực tế so với dự toán cho thấy được sự biến động về lượng và giá tới chi phí sản xuất đều có kết quả tốt và kết quả bất lợi. Những kết quả bất lợi Công ty nên tìm nguyên nhân gây ra biến động và có những điều chỉnh phù hợp để kiểm soát tốt chi phí sản xuất xây lắp. Ngoài ra, tác giả đã chỉ rõ những nhược điểm còn tồn tại đó là việc công ty chưa coi trọng công tác phân tích CP, công ty chưa lập 6 được báo cáo phân tích CP, sự biến động của CP và chỉ ra những nhân tố dẫn đến sự biến động đó cũng như tìm hiểu nguyên nhân của sự biên động. Thêm một nghiên cứu trong lĩnh vực vận tải của tác giả Trần Thị Phương Linh (2012) với đề tài: “ KTQT CP tại công ty cổ phần vận tải biển”.
Bài viết đã phân tích thực trạng KTQT CP tại công ty cổ phần vận tải biển. Trên cơ sở thực tế tại Công ty, tác giả đã nêu lên ưu nhược điểm của công tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty. Từ đó, tác giả đã đưa ra các giải pháp: xác định lại đối tượng hạch toán chi phí để phục vụ cho việc tính giá thành được chính xác hơn, đề xuất phân loại chi phí theo cách ứng xử chi phí nhằm phục vụ nhu cầu hạch toán và quản lý chi phí, hoàn thiện hệ thống báo các thực hiện về chi phí sản xuất nhằm cung cấp thong tin phục vụ công tác quản lý chi phí. Qua nhiều nghiên cứu trước đây, hầu hết các nghiên cứu về các lĩnh vực, một là chuyên về xây lắp, hai là chuyên về sản xuất đặc thù, sản phẩm làm ra là sản phẩm hàng loạt, chưa có nghiên cứu nào về lĩnh vực cửa, sản phẩm sản xuất theo đơn đặt hàng, tồn kho chủ yếu là nguyên vật liệu, không có tồn kho thành phẩm.
Chính vì vậy, tác giả đã đi vào nghiên cứu về hệ thống kế toán quản trị chi phí tại công ty chuyên sản xuất và cung cấp các loại cửa cao cấp, điển hình là Công ty Cổ phần Smart ( Smart Window). 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về kế toán quản trị Theo Luật Kế toán Việt Nam, KTQT được định nghĩa như sau: “KTQT là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”(Luật kế toán, khoản 3, điều 4).
KTQT là một bộ phận trong hệ thống thông tin của một tổ chức, các nhà quản lý dựa vào thông tin KTQT để hoạch định và kiểm soát hoạt động của tổ chức (Hilton, 1991). Bản chất Kế toán quản trị chi phí Các đối tượng quan tâm tới tình hình kinh tế tài chính của một đơn vị gồm hai nhóm cơ bản: bên trong và bên ngoài đơn vị, các đối tượng này có mục tiêu ra quyết định khác nhau và do đó quan tâm tới những góc độ khác nhau dẫn đến sự hình thành 2 hệ thống thông tin kế toán để đáp ứng nhu cầu của các đối tượng trên, đó là KTTC và KTQT, trong đó KTQT là hệ thống thông tin chủ yếu hướng tới nội bộ DN để phục vụ cho quá trình ra quyết định trong điều hành, giám sát hoạt động SXKD, lựa chọn phương án kinh doanh, dự án đầu tư có hiệu quả kinh tế và tối ưu nhất cho DN. Còn KTTC là hệ thống thông tin cung cấp các thông tin về sự biến động của vốn trong một kỳ kế toán nhất định để báo cáo tình hình SXKD ra bên ngoài. Do bản chất của KTQT là phục vụ nhu cầu nội bộ, hướng tới đối tượng bên trong DN, bên cạnh đó mỗi DN đều có những nét đặc thù nên quan niệm 8 về KTQT ở các quốc gia khác nhau, cũng như các doanh nghiệp khác nhau trong một nền kinh tế cũng không giống nhau.
Theo Liên đoàn Kế toán quốc tế - IFAC tổng kết các khái niệm về KTQT trên thế giới năm 1998, “KTQT là một quy trình định dạng, kiểm soát, đo lường, tổng hợp, phân tích, trình bày, giải thích và truyền đạt thông tin tài chính, thông tin phi tài chính liên quan đến hoạt động của tổ chức cho những nhà quản trị thực hiện hoạch định, đánh giá, kiểm soát, điều hành hoạt động tổ chức nhằm đảm bảo sử dụng có trách nhiệm, hiệu quả nguồn lực kinh tế của Doanh nghiệp”. Theo Viện nghiên cứu KTQT Hoa Kỳ - IMA, “KTQT là một quy trình nhận dạng, tổng hợp, trình bày, giải thích và truyền đạt thông tin thích hợp cho nhà quản trị lập chiến lược KD, hoạch định, kiểm soát hoạt động, ra quyết định KD, sử dụng có hiệu quả nguồn lực kinh tế, cải tiến và nâng cao giá trị DN, đảm bảo an toàn cho tài sản, kết hợp chặt chẽ với việc quản trị và kiểm soát nội bộ”. Từ các quan điểm trên có thể thấy bản chất của KTQT là một hệ thống thông tin kế toán có chức năng quản lý trực tiếp và gián tiếp, là quá trình nhận dạng, đo lường, phân tích, truyền đạt không chỉ những thông tin tài chính mà còn có những thông tin phi tài chính cho quản trị DN, phục vụ cho quá trình ra quyết định, hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm tra, kiểm soát hệ thống. Kế toán CP dưới góc nhìn của KTTC là quá trình tính toán, đo lường những CP phát sinh theo đúng quy định, chuẩn mực để xác định giá trị ghi sổ cho đối tượng của kế toán, ví dụ như thông tin về giá thành, giá vốn hàng bán, giá trị hàng tồn kho… để lập các báo cáo tài chính, còn theo KTQT thì kế toán CP có chức năng định dạng, tổng hợp, phân tích, đánh giá và truyền đạt thông tin về CP (quá khứ, dự báo, ước tính trong tương lai) của các đối tượng 9 để phục vụ cho việc ra quyết định quản trị doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu năng của hoạt động SXKD.
Theo tất cả những đánh giá, phân tích trên, tác giả quan niệm “KTQT CP là một hệ thống thông tin kế toán, là một chức năng của quản lý, nhằm thu thập, xử lý, phân tích, đánh giá, tổng hợp và cung cấp thông tin về CP của tổ chức cho các nhà quản trị phục vụ cho việc ra quyết định trong việc hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm soát, đánh giá hệ thống để sử dụng có hiệu quả nguồn lực, nâng cao giá trị tổ chức”.