Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ VÀ KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI 1. Đặc điểm hoạt động của các doanh nghiệp thương mại ảnh hưởng đến kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh Hoạt động kinh doanh thương mại là hoạt động lưu thông phân phối hàng hóa trên thị trường buôn bán của từng quốc gia riêng biệt hoặc giữa các quốc gia với nhau. Hoạt động thương mại có các đặc điểm sau [14, tr.108]: - Lưu chuyển hàng hóa trong kinh doanh thương mại bao gồm hai giai đoạn: mua hàng và bán hàng không qua khâu chế biến làm thay đổi hình thái vật chất của hàng. - Đối tượng kinh doanh thương mại là các loại hàng hóa phân theo từng ngành hàng: + Hàng vật tư, thiết bị (tư liệu sản xuất – kinh doanh); + Hàng công nghệ phẩm tiêu dùng; + Hàng lương thực, thực phẩm chế biến - Quá trình lưu chuyển hàng hóa được thực hiện theo hai phương thức bán buôn và bán lẻ.
Trong đó, bán buôn là bán hàng hóa cho các tổ chức bán lẻ, tổ chức sản xuất, kinh doanh dịch vụ hoặc các đơn vị xuất khẩu để tiếp tục quá trình lưu chuyển của hàng; bán lẻ là bán hàng cho người tiêu dùng cuối cùng. - Bán buôn hàng hóa và bán lẻ hàng hóa có thể thực hiện bằng nhiều hình thức: bán thẳng, bán qua kho trực tiếp, gửi bán qua đơn vị đại lý, ký gửi, bán hàng trả góp, hàng đổi hàng… - Tổ chức đơn vị kinh doanh thương mại có thể theo một trong các mô hình: tổ chức bán buôn, tổ chức bán lẻ, chuyên doanh hoặc kinh doanh tổng hợp, hoặc chuyên môi giới… ở các quy mô tổ chức: quầy, cửa hàng, Công ty, tổng Công ty… thuộc mọi thành phần kinh tế kinh doanh trong lĩnh vực thương mại. Trong kinh doanh thương mại cần được xuất phát từ đăc điểm qua hệ thương mại và vị thế kinh doanh với các bạn hàng để tìm phương thức giao dịch, mua bán thích hợp, đem lại cho đơn vị lợi ích lớn nhất. Vì vậy, kế toán các đơn vị thương mại cần thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ để cung cấp thông tin cho người quản lý doanh nghiệp, các đối tượng ngoài đơn vị có thể đưa ra các quyết định đúng đắn, đó là: 9 - Ghi chép số lượng, chất lượng và chi phí mua hàng, giá mua, phí khác, thuế không được hoàn trả theo chứng từ đã lập, trên hệ thống sổ kế toán thích hợp.
- Phân bổ hợp lý chi phí mua hàng ngoài giá mua cho số hàng đã bán và tồn cuối kỳ, để từ đó xác định giá vốn hàng hóa đã bán trong kỳ và tồn cuối kỳ. - Phản ánh kịp thời khối lượng hàng bán, ghi nhận doanh thu bán hàng và các chỉ tiêu liên quan khác của khối lượng hàng bán (giá vốn hàng bán, doanh thu thuần…). - Quản lý chặt chẽ tình hình biến động và dự trữ kho hàng hóa, phát hiện, xử lý kịp thời hàng hóa ứ đọng tại kho hay nợi gửi đại lý… - Lựa chọn phương pháp và xác định đúng giá vốn hàng xuất bán để đảm bảo độ chính xác của chỉ tiêu lợi nhuận gộp hàng hóa đã tiêu thụ. - Xác định kết quả bán hàng và thực hiện chế độ báo cáo hàng hóa và báo cáo tình hình tiêu thụ và kết quả tiêu thụ hàng hóa.
- Theo dõi và thanh toán kịp thời công nợ với nhà cung cấp và khách hàng có liên quan của từng thương vụ giao dịch. Một số vấn đề cơ bản về doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp thương mại 1. Khái niệm và phân loại doanh thu 1. Khái niệm doanh thu Theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế số 15 (IFRS15): “Doanh thu là tổng các lợi ích kinh tế trong kỳ, phát sinh trong quá trình hoạt động thông thường, làm nguồn vốn chủ sở hữu, chứ không phải phần đóng góp của những người tham gia góp vốn cổ phần.
Doanh thu không bao gồm những khoản thu cho bên thứ ba” [12, tr. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 (VAS14 – Doanh thu và thu nhập khác) ban hành theo quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của BTC: “Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu” [3]. Theo thông tư 200/2014/TT-BTC ban hành ngày 22/12/2014 thì doanh thu là lợi ích kinh tế thu được làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp ngoại trừ phần 10 đóng góp thêm của các cổ đông. Doanh thu được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh, khi chắc chắn thu được lợi ích kinh tế, được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản được quyền nhận, không phân biệt đã thu tiền hay sẽ thu được tiền [4, tr.
Có nhiều khái niệm khác nhau về doanh thu, nhưng có thể nói bản chất của doanh thu là khoản thu từ hoạt động kinh doanh, cơ sở tạo ra kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp và khẳng định: Không phải mọi nghiệp vụ kinh tế làm tăng tài sản đều phát sinh doanh thu, đồng thời không chỉ có sự phát sinh doanh thu mới làm thay đổi nguồn vốn chủ sở hữu. Doanh thu chỉ là một trong những nghiệp vụ kinh tế phát sinh làm tăng tài sản và làm thay đổi vốn chủ sở hữu. Nhận thức rõ bản chất của doanh thu và xác định đúng đắn phạm vi, thời điểm, cơ sở ghi nhận doanh thu ảnh hưởng có tính chất quyết định đến tính khách quan, trung thực của chỉ tiêu doanh thu, kết quả trong báo cáo tài chính. Do vậy, cần xác định đúng thời điểm ghi nhận doanh thu.
Điều kiện ghi nhận doanh thu bán hàng: doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn tất cả năm (5) điều kiện sau [3]: (a) Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua; (b) Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa; (c) Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn; (d) Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng; (e) Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng. Phân loại doanh thu Tùy theo yêu cầu quản lý có thể sử dụng một số tiêu thức chính sau để phân loại doanh thu [14, tr.148]: • Theo mối quan hệ với hệ thống tổ chức kinh doanh Phân loại theo tiêu thức này, doanh thu bán hàng bao gồm 2 loại: doanh thu bán hàng nội bộ và doanh thu bán hàng ra ngoài. - Doanh thu bán hàng nội bộ: là doanh thu của khối lượng bán hàng trong nội bộ hệ thống tổ chức của doanh nghiệp như tiêu thụ nội bộ giữa các đơn vị trực thuộc trong tổng Công ty… 11 - Doanh thu bán hàng ra ngoài: là toàn bộ doanh thu của khối lượng sản phẩm, hàng hóa doanh nghiệp đã bán ra cho khách hàng ngoài phạm vi doanh nghiệp. Việc phân loại này sẽ giúp doanh nghiệp xác định được chính xác kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, cung cấp thông tin chính xác cho công tác lập BCTC hợp nhất mang tính tập đoàn, toàn ngành… • Theo khu vực địa lý Theo tiêu thức này, doanh thu của doanh nghiệp chia thành 2 loại: doanh thu nội địa và doanh thu quốc tế - Doanh thu nội địa: là các khoản thu được từ việc bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ trong nước - Doanh thu quốc tế: là các khoản thu từ bán hàng và cung cấp dịch vụ phát sinh tại nước ngoài Việc phân loại này giúp nhà quản trị doanh nghiệp xác định mức độ hoạt động theo khu vực địa lý, căn cứ để đánh giá mức sinh lợi cũng như rủi ro trong kinh doanh của từng khu vực, đồng thời cung cấp được số liệu phục vụ cho việc lập BCTC bộ phận của từng doanh nghiệp.
• Theo nguồn hoạt động Theo tiêu chí này, doanh thu được chia thành 3 loại: doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ (thuộc hoạt động SXKD thông thường), doanh thu hoạt động tài chính và doanh thu khác. - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là toàn bộ tiền bán hàng, tiền cung ứng dịch vụ (chưa có thuế GTGT) bao gồm cả phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có) mà cơ sở kinh doanh được hưởng. - Doanh thu hoạt động tài chính là khoản thu từ hoạt động liên quan đến các nghiệp vụ đầu tư tài chính ngắn hạn, dài hạn như đầu tư chứng khoán, đầu tư góp vốn liên doanh, cho vay, kinh doanh bất động sản… - Doanh thu khác là khoản thu từ những nghiệp vụ không phát sinh một cách thường xuyên trong doanh nghiệp như các nghiệp vụ bồi thường, tiền phạt vi phạm hợp đồng, thanh lý, nhượng bán TSCĐ… • Phân loại doanh thu theo phương thức thanh toán tiền hàng Theo tiêu thức này, doanh thu được phân loại như sau: 12 - Doanh thu bán hàng thu tiền ngay: là toàn bộ doanh thu của khối lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ… đã bán trong kỳ và được khách hàng trả tiền ngay khi phát sinh doanh thu. - Doanh thu bán chịu: là toàn bộ doanh thu của khối lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ… đã bán trong kỳ và đã được ghi nhận là doanh thu.
Tuy nhiên, khách hàng còn nợ tiền hàng. - Doanh thu bán hàng trả góp: là toàn bộ doanh thu của khối lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ… đã bán trong kỳ, khách hàng đã thanh toán một phần tiền hàng hoặc chưa thanh toán. Trong trường hợp này, người mua phải trả hết tiền hàng trong một khoảng thời gian nhất định, phải trả với giá cao hơn giá trả tiền ngay. Với cách phân loại này, giúp DN xây dựng dự toán về các khoản công nợ, chi phí trong kỳ của DN, giúp DN phân tích, đánh giá khả năng thành toán của khách hàng và là căn cứ để xác định mức dự phòng phải thu khó đòi.
Khái niệm và phân loại chi phí 1. Khái niệm chi phí Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 (VAS01 – Chuẩn mực chung): “Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm các khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu” [2].