Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN BÌNH KHÊ (HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH) 1. Quá trình hình thành huyện Bình Khê và Sự thay đổi về địa giới hành chính Huyện Bình Khê (nay là huyện Tây Sơn), xưa kia là vùng đất thuộc vương quốc Chăm Pa (Chiêm Thành) cổ. Sau khi vua Lê Thánh Tông chinh phục Chăm Pa (năm 1471), mở đất đến đèo Cù Mông. Nhà Lê lập phủ Hoài Nhân (tức Hoài Nhơn) gồm ba huyện: Bồng Sơn, Phù Ly, Tuy Viễn thuộc Thừa tuyên Quảng Nam [12, tr.
Bình Khê lúc đó là một phần đất nằm ở phía tây huyện Tuy Viễn (bao gồm cả vùng rừng núi Vĩnh Thạnh và An Khê). Năm 1602, chúa Nguyễn Hoàng đổi tên phủ Hoài Nhân thành phủ Qui Nhân (Qui Nhơn). Năm 1800 sau khi chiếm lại phủ thành Quy Nhơn chúa Nguyễn Ánh lập dinh Bình Định thay phủ Qui Nhơn, năm 1808 vua Gia Long đổi dinh thành trấn vẫn gồm 3 huyện Bồng Sơn, Phù Ly, Tuy Viễn [6, tr. Sau nhiều lần đổi tên, năm 1832 nhà Nguyễn đổi tên phủ Hoài Nhơn thành tỉnh Bình Định, chia lại phủ, huyện, tổng.
Huyện Tuy Viễn cũ chia thành phủ An Nhơn và hai huyện Tuy Phước, Tuy Viễn. Vùng đất Bình Khê bao gồm tổng Thời Hòa và tổng Phú Phong thuộc huyện Tuy Viễn. Tháng 5 năm 1877 (dưới thời vua Tự Đức), sau khi di dân khai phá, lập thêm 28 làng phía nam sông Ba, nhà Nguyễn thành lập thêm 3 tổng Thuận Đức, Tân Phong và An Khê thuộc nha kinh lý An Khê. Tháng 9 năm 1888, nhà Nguyễn cắt 18 làng thuộc hai tổng Phú Phong và Mỹ Thuận (thuộc Tuy Viễn) nhập vào nha kinh lý An Khê thành lập huyện Bình Khê (gồm 4 tổng: Tân Phong, Thuận Đức, An Khê và Vĩnh Thạnh).
Khoảng năm 1937 lập tổng Trường Định, lúc e 11 đó Bình Khê có 4 tổng: Vĩnh Thạnh, Phú Phong, Trường Định và Thuận Truyền với 47 làng. Đầu năm 1946 do có sự điều chỉnh địa giới giữa An Nhơn và Bình Khê nên có thêm 3 làng: Bính Đức, Nhơn Thuận và Mỹ Đức, tổng cộng Bình Khê có 50 làng [6, tr. Sau cách mạng Tháng Tám năm 1945, tổng Phú Phong được gọi là tổng Tây Sơn, tổng Trường Định gọi là tổng Hương Sơn, tổng Thuận Truyền gọi là tổng Võ Cự Công, tổng Vĩnh Thạnh giữ nguyên tên. Cuối năm 1945, bỏ cấp tổng, thành lập cấp xã.
Đầu năm 1946, Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa quyết định bỏ cấp “Kỳ” (Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ) thay bằng “Bộ” (Bắc bộ, Trung Bộ, Nam bộ), xóa bỏ cấp châu, quận, phủ, tổng, hình thành chính quyền 4 cấp: Bộ, tỉnh (thành phố), huyện, xã và chủ trương tiến hành hợp nhất xã lần thứ nhất, Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Bình Định quyết định cắt 3 thôn Bính Đức, Mỹ Đức, Nhơn Thuận thuộc huyện Bình Khê. Tháng 3 năm 1946, Bình Định nhập xã lần thứ nhất, huyện Bình Khê từ 50 làng hợp thành 21 xã [6, tr. Tháng 4 năm 1947, Bình Định thành lập 4 huyện miền núi: An Lão, Kim Sơn, Vĩnh Thạnh (tổng Vĩnh Thạnh cũ của huyện Bình Khê), Vân Canh. Đầu năm 1948, nhập xã nhỏ thành xã lớn, huyện Bình Khê nhập xã lần thứ hai, còn 10 xã: Bình Quang, Bình Giang, Bình Tường, Bình Phú, Bình Nghi, Bình Tân, Bình Thuận, Bình Thành, Bình Hòa, Bình An.
Từ cuối năm 1955 đến đầu năm 1958, sau khi tiếp quảng vùng tự do tỉnh Bình Định, chính quyền Việt Nam Cộng hòa lập nha hành chính ở các huyện miền núi, đổi tên xã Bình Quang (nguyên thuộc huyện Bình Khê) thành xã Vĩnh Quang nhập vào nha Vĩnh Thạnh; tháng 5 năm 1958 cải biến nha hành chính Vĩnh Thạnh thành quận Vĩnh Thạnh [26]. Ngày 19/7/1963, chính quyền Việt Nam Cộng hòa ra nghị định số 588- e 12 NV lập xã Phùng Thiện thuộc quận Vĩnh Thạnh gồm các thôn Tiên Thuận, Thượng Sơn (nguyên thuộc các xã Bình Giang, quận Bình Khê), một phần xã Vĩnh An (thuộc quận Vĩnh Thạnh), 2 thôn Định Quang, Định Bình (thuộc xã Vĩnh Quang, quận Vĩnh Thạnh), phần còn lại của xã Vĩnh An nhập vào xã Bình Giang (thuộc Bình Khê); xã Vĩnh Bình (nguyên thuộc quận Vĩnh Thạnh) nhập vào xã Bình Tường (thuộc quận Bình Khê). Từ tháng 4/1965 đến tháng 6/1970, chính quyền Việt Nam Cộng hòa cải biến quận Vĩnh Thạnh thành cơ sở phái viên hành chính Vĩnh Thạnh trực thuộc quận Bình Khê, rồi bãi bỏ, lại tái lập rồi bãi bỏ cơ sở phái viên hành chính, đặt các xã của huyện Vĩnh Thạnh trực thuộc huyện Bình Khê. Sau ngày thống nhất đất nước, quận đổi thành huyện.
Tháng 11 năm 1975, Bình Khê và Vĩnh Thạnh hợp nhất thành huyện Tây Sơn. Tháng 8 năm 1981, huyện Vĩnh Thạnh tách khỏi huyện Tây Sơn. Tháng 2 năm 1986 chia xã Bình Hiệp thành 2 xã Bình Tân và Bình Thuận. Tháng 8 năm 1987, chia xã Bình An thành 3 xã: Tây Bình, Tây Vinh, Tây An; xã Bình Phú thành 2 xã: Tây Phú và Tây Xuân; xã Bình Giang thành 2 xã: Tây Thuận và Tây Giang.
Hiện nay, huyện Tây Sơn có 14 xã và một thị trấn huyện lỵ đặt tại thị trấn Phú Phong. Phía bắc sông Kôn có các xã: Bình Tân, Bình Thuận, Bình Thành, Bình Hòa, Tây Bình, Tây Vinh, Tây An. Phía nam sông kôn có các xã Tây Thuận, Tây Giang, Bình Tường, Tây Phú, Tây Xuân, Bình Nghi, Vĩnh An [15, tr. Điều kiện tự nhiên Huyện Bình Khê (nay là huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định và Thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai) là huyện trung du và miền núi nằm phía tây nam tỉnh Bình Định.
Bắc giáp huyện Phù Cát, Nam giáp huyện Vân Canh và thị xã An Khê (tỉnh Gia Lai), Tây giáp huyện Vĩnh Thạnh, Đông giáp thị xã An Nhơn. Khí hậu của huyện vừa chịu ảnh hưởng khí hậu Tây Nguyên, vừa ảnh e 13 hưởng khí hậu Duyên hải miền Trung nên có hai mùa mưa nắng rõ rệt. Nhiệt độ không khí trung bình năm là 26,70C. Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.800mm, phân phối không đều trên địa bàn huyện.
Dãy Trường Sơn Đông từ cao nguyên Gia Lai chia nhiều nhánh tạo thành vòng cung bao bọc huyện Bình Khê từ đông bắc qua phía bắc, sang phía tây, xuống tây nam. Dãy Kình sơn án ngữ phía bắc và tây có các ngọn Kiền Kiền, Bạch Thạch, Càn Dương, Cà Ca, Trà Ly, Hắc Sơn. cao từ 400- 800m so với mặt nước biển. Dãy Hội Sơn phía đông bắc có các ngọn Độc Nhũ, Lỗ Tây.
Vùng núi Vĩnh An phía tây nam có các cao điểm 874-807-771m. Xuống vùng thấp, các dãy núi bị chia cắt thành những cụm núi, đồi, gò rải rác xã nào cũng có với những cao điểm lợi hại về quân sự. Chen giữa các cụm núi, đồi, gò có những đèo, truông, dốc khá hiểm trở, nhất là đèo An Khê phía tây xã Bình Giang trên quốc lộ 19 lên An Khê. Sông Kôn là một trong những dòng sông lớn của tỉnh Bình Định, phát nguyên từ các dãy núi cao ở KBang (Gia Lai) và An Lão (Bình Định) cùng với các chi lưu ở huyện Vĩnh Thạnh như Nước Trinh, Kà Xôm, Tà Má, Kriêm (Sem) tạo thành xuôi hướng tây bắc - đông nam chia địa bàn huyện Bình Khê thành hai mảng bắc, nam vào An Nhơn, Tuy Phước đổ ra đầm Thị Nại và cảng biển Qui Nhơn.
Sông Quéo phát nguyên từ rừng núi Hội Sơn phía đông bắc xuôi hướng nam hợp lưu với sông Kôn tại Bình Hòa. Các con suối từ vùng núi Vĩnh An và Bình Phú ở phía tây nam tạo thành sông Đồng Hươu (còn gọi là sông Hầm Hô) đổ ra sông Kôn tại Phú Phong. Sông Kôn còn có nhiều chi lưu ở các xã phía nam. Xen giữa các thung lũng ven núi các xã Bình Nghi, Bình Phú, Bình Tường, Bình Giang, Bình Quang.
là những cánh đồng nhỏ hẹp, kín đáo, thổ nhưỡng thích hợp trồng hoa màu, cây công nghiệp, chăn nuôi gia súc. Tư bản e 14 Pháp đã từng chiếm hữu các cánh đồng này để lập đồn điền trồng cao su, bông, nuôi bò, dê. Đây cũng là những căn cứ địa của các phong trào yêu nước ở địa phương trước thế kỷ XX và trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Cuối thế kỷ XVIII, (thời Tây Sơn) đã hình thành con đường trạm (đường bộ cho người ngựa đi lại) ven sông Kôn, lập các trạm Lai Nghi (Bình Nghi), Đồng Phó (Bình Giang), ngược lên dốc Ván Định Quang (Bình Quang) lên Cửu An, Tú Thủy (An Khê).
Những năm đầu thế kỷ XX, nhằm đẩy mạnh chính sách khai thác thuộc địa, tư bản và thực dân Pháp cải tạo nâng cấp con đường trạm cũ, mở một nhánh từ Định Quang lên suối Kà Xôm (xã Vĩnh Kim, huyện Vĩnh Thạnh), lập đồn binh tại Định Bình (Bình Giang); xây dựng quốc lộ 19 từ cảng Quy Nhơn ra Tuy Phước, An Nhơn ngược tây bắc men theo bờ nam sông Kôn qua Bình Khê, rẽ phía tây qua đèo An Khê lên Pleiku, Kon Tum qua Atôpư (Hạ Lào). Khi đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, chúng mở rộng và nâng cấp quốc lộ 19, lắp đặt ống dẫn dầu từ cảng Quy Nhơn lên Tây Nguyên. Đây là con đường chiến lược huyết mạch ở khu vực Trung Đông Dương nối các tỉnh ven biển Trung Trung Bộ với Tây Nguyên, đông bắc Campuchia, Hạ Lào [15, tr. Nối với quốc lộ 19 và quốc lộ 1 có những đường liên tỉnh, liên huyện là những tuyến giao thông huyết mạch của huyện Bình Khê.
Đường từ ngã ba Vườn Soài (Bình Giang) trên quốc lộ 19 men sông Kôn lên Bình Quang, Vĩnh Thạnh, Gia Lai (tỉnh lộ 637). Đường từ thị trấn Phú Phong qua cầu Kiên Mỹ (tỉnh lộ 636) qua Kiên Ngãi (Bình Thành) chia hai ngả: ngả phía nam xuống Bình Hòa, Bình An qua An Nhơn giáp quốc lộ 1 tại Gò Găng; ngả phía bắc lên Bình Thuận, Bình Tân qua Phù Cát nối với quốc lộ 1 tại Các Trinh. Đường từ thị trấn Phú Phong xuống Bình Nghi vượt sông Kôn qua An Nhơn giáp quốc lộ 1 tại thị trấn Bình Định. Đường từ Bình Giang men bờ bắc sông e 15 Kôn xuống Bình Thành, Bình Hòa, Bình An qua An Nhơn giáp quốc lộ 1 tại Nhơn Hậu.
Đường từ Bình Tân men bờ đông sông Quéo xuống Bình An qua An Nhơn nối với quốc lộ 1 tại thị trấn Đập Đá. Hệ thống đường liên xã, liên thôn chằng chịt rất thuận tiện giao thông và cơ động về quân sự. Khi đế quốc Mỹ đưa quân viễn chinh trực tiếp tiến hành chiến tranh xâm lược, chúng chiếm một phần đất của Bình An, Bình Thuận, An Nhơn, Phù Cát, xây dựng xân bay Gò Quánh là một trong những sân bay quân sự lớn ở miền nam, xây dựng sân bay dã chiến ở Định Bình (Bình Quang).