MỞ ĐẦU Du lịch là một hoạt động đã gắn bó với con ngƣời từ rất lâu. Trải qua nhiều giai đoạn phát triển của xã hội loài ngƣời, hoạt động du lịch cũng có những chuyển biến đáng kể. Trong xã hội nguyên thủy, du lịch chỉ đơn thuần là đến thăm giữa các bộ lạc, các đại gia đình. Ngày nay, du lịch không chỉ là thăm quan mà nó còn là nghỉ dƣỡng, học hỏi, tìm tòi và khám phá.
Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch mới chỉ đƣợc hình thành cách đây hơn 30 năm nhƣng lại hấp dẫn một lƣợng lớn khách du lịch tham gia, đặc biệt là ngƣời dân các nƣớc phát triển. Lý do khiến du lịch sinh thái thu hút đƣợc sự quan tâm của đông đảo khách du lịch là do đây là loại hình du lịch gắn với thiên nhiên, cải tạo môi trƣờng và nâng cao nhận thức của du khách cũng nhƣ ngƣời dân địa phƣơng. Những khu vực phát triển loại hình du lịch này thƣờng là các Vƣờn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên hay Khu dự trữ sinh quyển - nơi mà có những hệ sinh thái còn khá nguyên vẹn, hầu nhƣ chƣa bị tác động tiêu cực của con ngƣời làm ảnh hƣởng. Tuy nhiên, không phải du lịch sinh thái chỉ có thể thực hiện đƣợc tại những nơi này mà du lịch sinh thái hoàn toàn có thể diễn ra tại những vùng đất xa xôi, hẻo lánh, ít ngƣời qua lại.
Tại đây, cảnh quan thiên nhiên, các hệ sinh thái và các loài sinh vật mang tính tự nhiên cao, độ đa dạng lớn và tính nguyên vẹn vẫn đƣợc giữ gìn. Việt Nam là một trong những quốc gia có sự đa dạng sinh học cao, với điều kiện thiên nhiên ƣu đãi nên nhiều khu vực có thể phát triển đƣợc loại hình du lịch sinh thái. Thực tế cũng chứng minh, hiện nay Việt Nam có rất nhiều những điểm đến du lịch sinh thái hấp dẫn du khách trong nƣớc và quốc tế. Những khu du lịch này, một phần giúp cho du khách đƣợc nghỉ ngơi, thƣ giãn, nâng cao nhận thức về môi trƣờng tự nhiên và hệ sinh thái; mặt khác góp phần cải tạo các điều kiện phúc lợi cho cƣ dân địa phƣơng, giúp họ cải thiện chất lƣợng cuộc sống, giảm bớt sự phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên của khu vực.
Bên cạnh đó, việc phát triển loại hình du lịch sinh thái giúp cho việc bảo tồn các loài động thực vật tốt hơn, giảm thiểu tác động tiêu cực của hoạt động du lịch đến cảnh quan môi trƣờng. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ứng Thị Hồng Trang – K18 Sinh thái học Chính vì lẽ đó, việc đề xuất thành lập các khu du lịch sinh thái tại những khu vực có tiềm năng là một việc làm rất cần thiết. Xuất phát từ thực tế này, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Tiềm năng du lịch và đề xuất định hướng quy hoạch du lịch sinh thái ở vùng hồ Quan Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội” với hy vọng có thể góp phần hình thành thêm một khu du lịch sinh thái nữa tại Việt Nam. Mục tiêu của đề tài là tiến hành điều tra, khảo sát về tiềm năng du lịch cũng nhƣ là du lịch sinh thái của khu vực hồ Quan Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội.
Trên cơ sở đó, đề xuất định hƣớng quy hoạch du lịch sinh thái cho vùng hồ với những nội dụng cụ thể, thực tế. Nội dung luận văn chủ yếu tập trung vào các nội dung sau: 1. Tìm hiểu những đặc điểm tự nhiên và xã hội của các xã của khu vực hồ Quan Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội. Đánh giá hiện trạng các hệ sinh thái cơ bản và tài nguyên sinh vật vùng hồ Quan Sơn.
Đánh giá các nhân tố sinh thái tự nhiên, các nhân tố sinh thái nhân văn, hoạt động của con ngƣời và tác động của chúng tới du lịch sinh thái. Định hƣớng quy hoạch phát triển du lịch sinh thái cho vùng hồ Quan Sơn. Tôi hi vọng, những kết quả nghiên cứu của tôi trong đề tài sẽ đóng góp tích cực trong việc giúp xây dựng thêm cho Việt Nam nói chung và thủ đô Hà Nội nói riêng một khu du lịch sinh thái hấp dẫn khách du lịch. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ứng Thị Hồng Trang – K18 Sinh thái học Chƣơng 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
KHÁI NIỆM VÀ NGUYÊN TẮC DU LỊCH SINH THÁI 1. Du lịch là gì? Hiện nay du lịch đƣợc coi là ngành công nghiệp không khói, ít gây ô nhiễm môi trƣờng, giúp khách du lịch vừa đƣợc nghỉ ngơi, thƣ giãn vừa biết thêm nhiều điều mới lạ về các vùng đất trong và ngoài nƣớc. Du lịch còn góp phần phát triển kinh tế của đất nƣớc, tạo việc làm và tăng thu nhập cho ngƣời dân. Chính vì lẽ đó mà hiện nay du lịch đang đƣợc phát triển một cách mạnh mẽ, trở thành một ngành kinh tế quan trọng ở nhiều nƣớc trên thế giới.
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chƣa có một định nghĩa hoàn chỉnh, thống nhất nào về du lịch đƣợc công nhận rộng rãi trên các lĩnh vực khoa học và đời sống. Do hoàn cảnh (thời gian, khu vực) khác nhau, dƣới góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi ngƣời có một cách hiểu và định nghĩa về du lịch khác nhau. Đúng nhƣ một chuyên gia du lịch nhận định: “Đối với du lịch có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa” [25]. Trong tiếng Anh, du lịch xuất phát từ tiếng “To Tour” có nghĩa là cuộc dạo chơi (Tour round the world - cuộc dạo chơi vòng quanh thế giới; tour round the town - cuộc dạo chơi quanh thành phố).
Tiếng Pháp, từ du lịch bắt nguồn từ “Le Tour” có nghĩa là cuộc dạo chơi, dã ngoại [15,22]. Theo nhà sử học Trần Quốc Vƣợng, du lịch đƣợc hiểu nhƣ sau: “Du” có nghĩa là đi chơi, “Lịch” là lịch lãm, từng trải, hiểu biết; nhƣ vậy “du lịch” đƣợc hiểu là việc đi chơi nhằm tăng thêm kiến thức [15]. Năm 1963, với mục đích quốc tế hoá, tại Hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch họp ở Roma, các chuyên gia đã đƣa ra định nghĩa về du lịch nhƣ sau: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tƣợng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lƣu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thƣờng xuyên của họ hay ngoài lãnh thổ đất nƣớc nơi họ sinh sống với mục đích hoà bình. Nơi họ đến lƣu trú không phải là nơi làm việc của họ [28].
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới, du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những ngƣời du hành nhằm thỏa mãn nhiều mục đích khác nhau (loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền) trong thời gian liên tục nhƣng không quá 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ứng Thị Hồng Trang – K18 Sinh thái học một năm, ở bên ngoài môi trƣờng sống định cƣ của họ. Các mục đích du lịch gồm mục đích thăm quan, khám phá, tìm hiểu, trải nghiệm, nghỉ ngơi, giải trí, thƣ giãn. nói một cách khác, du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trƣờng sống khác hẳn nơi định cƣ [36]. Nhƣ vậy, có khá nhiều khái niệm Du lịch nhƣng tổng hợp lại ta thấy du lịch hàm chứa các yếu tố cơ bản sau: Du lịch là một hiện tƣợng kinh tế xã hội.
Du lịch là sự di chuyển và tạm thời lƣu trú ngoài nơi ở thƣờng xuyên của các cá nhân hoặc tập thể nhằm thoả mãn các nhu cầu đa dạng của họ. Du lịch là tập hợp các hoạt động kinh doanh phong phú và đa dạng nhằm phục vụ cho các cuộc hành trình, lƣu trú tạm thời và các nhu cầu khác của cá nhân hoặc tập thể khi họ ở ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên của họ. Các cuộc hành trình, lƣu trú tạm thời của cá nhân hoặc tập thể đó đều đồng thời có một số mục đích nhất định, trong đó có mục đích hoà bình [27]. Khác với quan điểm trên, các học giả biên soạn Từ điển Bách khoa toàn thƣ Việt Nam (1966) [15] đã tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai phần riêng biệt.
Nghĩa thứ nhất (đứng trên góc độ mục đích của chuyến đi): Du lịch là một dạng nghỉ dƣỡng, thăm quan tích cực của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hoá, nghệ thuật… Nghĩa thứ hai (đứng trên góc độ kinh tế): Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hoá dân tộc, từ đó góp phần tăng thêm tình yêu đất nƣớc; đối với ngƣời nƣớc ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn: có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tại chỗ. Nhận thức rõ đƣợc vai trò quan trọng và to lớn của ngành du lịch, trong Pháp lệnh du lịch do Chủ tịch nƣớc Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam công bố ngày 20/02/1999: Du lịch là hoạt động của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu thăm quan, giải trí, nghỉ dƣỡng trong một khoảng thời gian nhất định [10]. Pháp lệnh gồm 9 chƣơng, 56 điều, có hiệu lực từ ngày 1 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ứng Thị Hồng Trang – K18 Sinh thái học tháng 5 năm 1999 trong đó quy định rõ: tham gia phát triển du lịch không còn chỉ là trách nhiệm của riêng ngành du lịch mà là trách nhiệm của “Cơ quan nhà nƣớc, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi cá nhân. Do đó, vấn đề nghiên cứu, phát triển du lịch cũng là trách nhiệm của cả những nhà khoa học, nhà quản lý.
Khái niệm Du lịch Sinh thái Du lịch Sinh thái (Eco-tour, Ecotourism) là một loại hình du lịch mới mẻ và có nhiều tranh cãi hiện nay. Mới đƣợc hình thành cách đây khoảng ba mƣơi năm nhƣng du lịch sinh thái (DLST) lại nhận đƣợc rất nhiều sự quan tâm không chỉ của những nhà du lịch mà cả những nhà quản lý, nhà khoa học, những ngƣời nghiên cứu xã hội và các tổ chức phi chính phủ. Khi mà các hoạt động du lịch truyền thống đã không còn trở nên hấp dẫn với đại đa số ngƣời dân trên thế giới thì DLST lại nổi lên nhƣ một hiện tƣợng cuốn hút rất nhiều ngƣời cùng tham gia, cùng trải nghiệm [24,27,30].