Chương 1: Cơ sở lý luận và khái quát về địa bàn nghiên cứu. Chương 2: Phong tục, tập quán và nghi lễ hôn nhân của người Dao Đỏ. Chương 3: Các yếu tố tác động đến hôn nhân và một số vấn đề đang đặt ra đối với hôn nhân của người Dao Đỏ. 16 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.
Một số khái niệm, - Hôn nhân: Theo từ điển Nhân học, “Hôn nhân là mối quan hệ gắn bó được thừa nhận về mặt xã hội giữa một người đàn ông với một người đàn bà nhằm mục đích duy trì nòi giống một cách hợp pháp lập gia đình hạt nhân mới hoặc nhằm tạo ra hộ gia đình mới’’ [54, tr. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam “Hôn nhân là một thể chế xã hội kèm theo nghi thức xác nhận quan hệ tính giao giữa hai hay nhiều người thuộc hai giới tính khác nhau (nam, nữ) được coi nhau là chồng và vợ, quy định mối quan hệ và trách nhiệm giữa họ với nhau và giữa họ với con cái của họ. Sự xác nhận đó, trong quá trình phát triển của xã hội, dần dần mang thêm những yếu tố mới” [58, tr. Khi nghiên cứu về hôn nhân, Emily A.Schultz và Robobert H.Lavenda đã khẳng định rằng: “Hôn nhân là một quá trình xã hội mà mô hình mẫu của nó là sự kết hợp giữa một người đàn ông và một người đàn bà, là một sự kiện làm biến đổi những thành viên của nó, làm thay đổi quan hệ giữa những người thân thuộc của mỗi bên và những khuôn mẫu xã hội thông qua việc sinh đẻ cùng với một số quyền lợi và nghĩa vụ đi kèm” [23, tr.
“Hôn nhân cũng tạo nên tính hợp pháp của con cái do người vợ sinh ra và thiết lập các mối quan hệ giữa họ hàng bên vợ và họ hàng bên chồng” [23, tr. Có thể nói, hôn nhân là một hiện tượng xã hội, đây là đặc trưng cơ bản nhất trong hôn nhân của người Dao Đỏ nói chung và hôn nhân của các tộc người khác nói riêng. Ở mỗi giai đoạn phát triển hôn nhân đều trải qua những hình thức và tính chất khác nhau để phù hợp với từng thời kỳ phát triển kinh tế xã hội. Tác giả Nguyễn Thị Song Hà trong cuốn Nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Mường ở Hòa Bình cho rằng: “Hôn nhân bao hàm một sự thay đổi trong vị trí xã hội của con cháu.
Một hôn nhân đòi hỏi phải có một người nam và một người 17 nữ và quy định mức độ quan hệ tính giao các thành viên trong hôn nhân có thể có với nhau” [34,tr.35] Luật Hôn nhân và Gia đình nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi rằng “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn” [42, khoản 1 Điều 3, tr. Đồng thời Luật này cũng định nghĩa “Tập quán về hôn nhân và gia đình là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng về quyền, nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình, được lặp đi lặp lại trong một thời gian dài và được thừa nhận rộng rãi trong một vùng, miền hoặc cộng đồng” [42, khoản 4 Điều 3, tr. “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn” [42, khoản 1, 4, 5; điều 3, tr. Do đó, kết hôn là việc lớn của cuộc đời mỗi con người nó là sợ dây gắn kết để hình thành một gia đình nhỏ.
Tuy nhiên, đối với người Dao Đỏ việc kết hôn được xem như khẳng định sự trưởng thành của người đàn ông và đàn bà. - Tảo hôn: Hiện tượng tảo hôn vẫn còn xảy ra ở rất nhiều các tộc người trong cả nước nói chung và tộc người Dao Đỏ nói riêng. Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình “Tảo hôn là việc lấy, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn” [42, khoản 8 Điều 3, tr. 8] do vậy độ tuổi kết hôn “Nam từ đủ 20 tuổi, nữ từ đủ 18 tuổi” [42, điểm a khoản 1 Điều 8, tr 13].
Hiện nay, hiện tượng tảo hôn vẫn tồn tại ở một số dân tộc như H’mông, Dao. Chính vì vậy, việc truyên truyền Luật Hôn nhân và gia đình cũng như những chính sách của Đảng và Nhà nước nên hiện tượng tảo hôn của người Dao Đỏ ở xã Cần Nông, huyện thông Nông, tỉnh Cao Bằng nói chung đã dần được loại bỏ. - Hôn nhân cận huyết thống: Theo quy định tại khoản 3 điều 10 Luật hôn nhân và gia đình về trường hợp cấm kết hôn: “ giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời” [42, điểm d, khoản 2 Điều 5, tr. Và theo quy định tại khoản 18 Điều 3 phần giải thích từ ngữ quy định?: “Những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra: cha mẹ là đời thứ nhất; anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ 18 khác cha là đời thứ hai; anh chị em con chú con bác, con cô con cậu, con dì là đời thứ ba ” [42, khoản 18 Điều 3, tr.
Chính vì vậy, hôn nhân cận huyết được hiểu là hôn nhân của những người có chung huyết thống trong phạm vi ba đời mà pháp luật Việt Nam không cho phép. Hiện nay, ở các xã vùng cao nơi có đông đồng bào H’Mông, Dao sinh sống, hôn nhân cận huyết vẫn còn tồn tại, để xóa bỏ tình trạng này cần tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình trong các buổi sinh hoạt cộng đồng để người dân hiểu được hậu quả của việc kết hôn cận huyết. - Hôn nhân 1 vợ 1 chồng: Là phong tục kết hôn chỉ với một người sống thủy chung một lần, được xác lập khi đáp ứng các điều kiện, theo đó, cá nhân đã kết hôn chỉ được có một vợ hoặc một chồng. Đồng thời, trong thời kỳ hôn nhân, nam/nữ không được kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác.
- Ngoại hôn dòng họ: Theo tác giả Emily A. Schultz và Robobert H. Laenda (2001): "Ngoại hôn là khi người ta kết hôn với người thuộc ngoài nhóm xã hội với mình. Vì vậy, ngoại hôn dòng họ đó là những quy tắc kết hôn ngoài dòng họ được luật tục, tập quán hay pháp luật quy định.
- Nội hôn tộc người: Theo tác giả Emily A.Schultz và Robobert H. Lavenda (2001): "Nội hôn là khi người ta chỉ cho phép lấy người cùng một nhóm xã hội với mình" [23 tr. Do đó, nội hôn tộc người là quy tắc chỉ kết hôn với người đồng tộc hay cùng một nhóm tộc người (nhóm địa phương) với mình. - Nghi lễ: Theo Từ điển Nhân học: “Nghi lễ là những hành động nghi thức diễn ra trong bối cảnh thờ cúng tôn giáo - ví dụ một đại lễ Thiên chúa giáo hay một buổi hiến tế tổ tiên.
Thông thường, các nhà nhân học sử dụng “nghi lễ” để nói về bất kỳ một hành động nào có nhiều nghi thức và với mục đích bình quân chủ nghĩa.Theo nghĩa rộng nhất, nghi lễ liên quan không chỉ đến một loại sự kiện cụ thể đặc biệt nào mà cả với khía cạnh thể hiện của toàn bộ hoạt động của con người. Trong chừng mực nó chuyển tải các thông điệp địa vị văn hóa và xã hội của các cá nhân, bất kỳ hành động nào của con người cũng có khía cạnh nghi lễ” [54, tr. 19 Ngoài ra, tác giả Nguyễn Thị Song Hà cho rằng; “Nghi lễ chính là những nghi thức bắt buộc phải tiến hành trong một buổi lễ, nó gắn liền với đời sống văn hóa tộc người, được cộng đồng xã hội thừa nhận [34, tr. - Nghi lễ hôn nhân: Được hiểu là các nghi lễ được tiến hành trong hôn nhân theo phong tục, tập quán dưới sự chứng kiến của gia đình và cộng đồng.
Nghi lễ hôn nhân đã làm thay đổi vị thế của con người trong xã hội, đồng thời, nó khẳng định đây là một cuộc hôn nhân hợp pháp. Để tiến tới hôn nhân mỗi cá nhân trong một tộc người cụ thể đều phải trải qua các nghi lễ nhất định theo quy định của tộc người đó. Ngoài ra, nghi lễ hôn nhân còn chứa đựng những yếu tố tâm linh gắn liền với đời sống hôn nhân của đôi vợ chồng. Chính vì vậy nghi lễ hôn nhân không thể tách ra khỏi gia đình, cộng đồng mà nó chỉ có thể nằm trong các cụm từ gia đình, cộng đồng, chủ hôn, quan lang, cô dâu, chú rể….
Đây là hệ thống các nghi lễ trong hôn nhân của người Dao Đỏ nói riêng và hôn nhân của các tộc người nói chung. - Truyền thống: Thói quen hình thành đã lâu trong cuộc sống và nếp nghĩ, được truyền lại từ thế hệ này qua thế hệ khác [58, tr. - Biến đổi: Là sự thay đổi thành khác trước hoặc sự thay đổi, điều thay đổi khác với trước [54, tr. Hiện nay, trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa, sự biến đổi trong văn hóa nói chung và hôn nhân nói riêng của các tộc người là tất yếu.
Bởi vì, hôn nhân là những giá trị văn hóa phi vật thể, cho nên, nó luôn luôn biến đổi để phù hợp với những điều kiện, hoàn cảnh thực tế của đời sống xã hội. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu Trong luận văn này, tác giả sử dụng một số quan điểm lý thuyết của Dân tộc học/ Nhân học làm cơ sở cho việc phân tích và nhận định, đó là: - Lý thuyết bản sắc văn hóa tộc người: Là tổng thể các giá trị đặc trưng bản chất của văn hóa tộc người, được hình thành, tồn tại và phát triển suốt quá trình lịch sử lâu dài, các giá trị đặc trưng ấy ở "tầng nền" mang tính bền vững, trường tồn, trừu tượng và tiềm ẩn. Lý thuyết bản sắc văn hóa tộc người được F. Boas đưa ra để chỉ tính đặc thù của văn hóa tộc người.
Theo quan niệm này các nhà nghiên cứu, trong đó có các nhà Dân tộc học và Nhân học nhấn mạnh đến những bản sắc riêng, 20 có tinhd riêng biệt trong văn hóa của mỗi cộng đồng tộc người. Họ cho rằng, hôn nhân có thể diễn ra trong nội bộ của một cộng đồng tộc người hay giữa các cộng đồng tộc người. Hôn nhân trong nội bộ cộng đồng tộc người diễn ra giữa những người đến từ một nền văn hóa gốc, một cộng đồng tộc người gốc [William Lucy, 2010, tr.