Luận văn thạc sĩ hoạt động tranh tụng của kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn huyện tuy an tỉnh phú yên

Luận văn thạc sĩ phân tích hoạt động tranh tụng của kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự, từ thực tiễn huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2020

81
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Lý luận về hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm hình sự

Luận văn thạc sĩ này tập trung phân tích khái niệm và đặc điểm của hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm hình sự. Tranh tụng được hiểu là quá trình đối đáp giữa các bên trong tố tụng, nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Kiểm sát viên đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện chức năng buộc tội, bảo vệ công lý và pháp chế. Đặc điểm nổi bật của hoạt động này là sự bắt buộc có mặt của Kiểm sát viên tại phiên tòa, thể hiện tính chất công quyền và trách nhiệm cao trong việc đảm bảo tính khách quan của quá trình xét xử.

1.1. Khái niệm tranh tụng

Tranh tụng trong pháp luật hình sự được định nghĩa là quá trình đối đáp giữa bên buộc tội và bên bào chữa, với sự phân xử của Tòa án. Kiểm sát viên tham gia tranh tụng với tư cách đại diện công quyền, đưa ra các chứng cứ và lập luận để bảo vệ quan điểm của Viện kiểm sát. Đây là hoạt động nhằm đảm bảo tính công bằng, minh bạch trong quá trình xét xử, giúp Hội đồng xét xử ra quyết định đúng người, đúng tội.

1.2. Đặc điểm của hoạt động tranh tụng

Hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm hình sự có những đặc điểm riêng biệt. Thứ nhất, Kiểm sát viên tham gia với tư cách đại diện công quyền, đưa ra cáo buộc công khai đối với bị cáo. Thứ hai, sự có mặt của Kiểm sát viên là bắt buộc, nếu vắng mặt, phiên tòa phải hoãn lại. Thứ ba, Kiểm sát viên không chỉ tranh tụng mà còn kiểm sát việc tuân thủ pháp luật trong quá trình xét xử.

II. Thực trạng hoạt động tranh tụng tại huyện Tuy An Phú Yên

Thực tiễn hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại huyện Tuy An, Phú Yên được đánh giá qua các phiên tòa sơ thẩm hình sự từ năm 2015 đến 2019. Kết quả cho thấy, mặc dù có những tiến bộ nhất định, hoạt động tranh tụng vẫn còn nhiều hạn chế. Một số phiên tòa diễn ra mang tính hình thức, chất lượng tranh tụng chưa đồng đều. Kiểm sát viên đôi khi chưa phát huy hết vai trò trong việc đưa ra chứng cứ và lập luận thuyết phục, ảnh hưởng đến tính khách quan của bản án.

2.1. Quy định pháp luật về tranh tụng

Pháp luật hình sự hiện hành quy định rõ vai trò và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động tranh tụng. Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định này vào thực tiễn tại huyện Tuy An còn gặp nhiều khó khăn. Một số quy định chưa được cụ thể hóa, dẫn đến sự thiếu đồng bộ trong quá trình thực hiện.

2.2. Thực trạng tranh tụng tại huyện Tuy An

Qua khảo sát, hoạt động tranh tụng tại huyện Tuy An còn nhiều bất cập. Kiểm sát viên đôi khi chưa chủ động trong việc thu thập và trình bày chứng cứ, dẫn đến kết quả tranh tụng chưa thuyết phục. Ngoài ra, sự phối hợp giữa các cơ quan tư pháp còn thiếu chặt chẽ, ảnh hưởng đến hiệu quả của quá trình xét xử.

III. Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tranh tụng

Để nâng cao chất lượng hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm hình sự, luận văn thạc sĩ đề xuất một số giải pháp cụ thể. Trong đó, việc hoàn thiện các quy định pháp luật và nâng cao năng lực chuyên môn của Kiểm sát viên là yếu tố then chốt. Bên cạnh đó, cần tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan tư pháp và đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ Kiểm sát viên.

3.1. Hoàn thiện quy định pháp luật

Cần sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến hoạt động tranh tụng trong pháp luật hình sự, đảm bảo tính đồng bộ và khả thi. Đặc biệt, cần cụ thể hóa trách nhiệm và quyền hạn của Kiểm sát viên trong quá trình tranh tụng, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động này.

3.2. Nâng cao năng lực Kiểm sát viên

Đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ cho Kiểm sát viên là giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng tranh tụng. Cần tập trung vào kỹ năng thu thập chứng cứ, kỹ năng tranh luận và khả năng phân tích, đánh giá tình tiết vụ án. Đồng thời, tăng cường kinh nghiệm thực tiễn thông qua các buổi tập huấn và trao đổi chuyên môn.

02/03/2025
Luận văn thạc sĩ hoạt động tranh tụng của kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn huyện tuy an tỉnh phú yên

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TRANH TỤNG CỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI PHIÊN TOÀ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái niệm và đặc điểm về hoạt động tranh tụng của kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự 1. Khái niệm Tranh tụng hiểu theo nghĩa cơ bản nhất theo Từ điển tiếng Việt thì chính là sự kiện cáo nhau [47, tr. Đó là tranh luận giữa hai bên có lập trường tương phản nhau, yêu cầu Tòa án làm trọng tài phân xử.

Tuy nhiên, đây là cách hiểu thông thường, và ở khía cạnh này, thuật ngữ tranh tụng được dùng để nói chung trong tất các các hình thức tố tụng như: dân sự, hình sự, hành chính… [50, tr. Tranh tụng trong tiếng Anh là từ “Adversarial” có nghĩa là đối kháng, đương đầu. Xét về bản chất, tranh tụng là “cuộc đấu” giữa hai bên trong tố tụng hình sự (bên buộc tội và bên bị buộc tội) mà người đứng ra phân xử trong cuộc tranh đấu này chính là Tòa án [50, tr. Xét về mặt lịch sử, tranh tụng hình sự là một nội dung cụ thể của nền tư pháp tranh tụng hình thành từ thời cổ đại mà tư tưởng của nó bắt nguồn từ nhà triết học cổ đại nổi tiếng người Hy Lạp là Plato [53, tr.

Ông cho rằng “Bằng cách nói chuyện (đối thoại) về một điều gì đó trong một thời gian dài, một vài dấu hiệu hoặc hiểu biết sẽ xuất hiện, và cả hai bên sẽ cùng nhìn ra sự thật” [53, tr. Ý tưởng này của Plato được các Luật gia Hy Lạp cổ đại phát triển và xây dựng thành một trong những nguyên tắc cơ bản của TTHS ở Nhà nước Hy Lạp cổ đại. Sau đó, nguyên tắc này được đưa vào áp dụng ở La Mã và các quốc gia khác ở Châu Âu, với tên gọi “thủ tục hỏi đáp liên tục” [16, tr. Như vậy, vấn đề tranh tụng đã được đề cập từ rất lâu trong lịch sử tư pháp, bản chất của nó là hoạt động đối đáp liên tục giữa các bên có lợi ích đối 7 kháng nhau trước người trọng tài đóng vai trò phân xử để đi tìm chân lý.

Bên cạnh đó, xét về khía cạnh thuật ngữ pháp lý, tranh tụng được hiểu theo ba nội dụng khác nhau: thứ nhất được hiểu là một mô hình tố tụng; thứ hai được hiểu là một nguyên tắc thuộc tố tụng hình sự; thứ ba được hiểu là phương thức, là giai đoạn thực hiện vai trò của các chức năng đối lập nhau và có quyền ngang nhau trong tố tụng hình sự hay còn gọi là hoạt động tranh tụng [49, tr. Dù hiểu theo nghĩa nào thì tranh tụng luôn có bản chất là cách thức đi tìm sự thật khách quan của vụ án mà hoạt động tố tụng hình sự luôn muốn hướng tới. Theo nhiều luật gia, phương thức tranh tụng là phương thức có ưu điểm nhất trong việc vừa có thể tìm ra sự thật khách quan của vụ án vừa có thể bảo vệ hữu hiệu quyền con người của người buộc tội và chống oan sai, có thể hiểu: “Tranh tụng là việc từng bên đưa ra các quan điểm của mình và tranh luận lại để bác bỏ một phần hay toàn bộ quan điểm của phía bên kia” [45, tr. Với ý nghĩa là một nguyên tắc của luật tố tụng hình sự, nguyên tắc tranh tụng là những tư tưởng chỉ đạo, định hướng cho các chủ thể trong việc thực hiện quá trình tranh cãi bình đẳng dựa trên chứng cứ, quy định của pháp luật nhằm thực hiện chức năng buộc tội hoặc chức năng bào chữa, từ đó tìm ra sự thật khách quan của vụ án [45, tr.

Như vậy, tranh tụng trong tố tụng hình sự thực chất là quá trình vận động tác động qua lại giữa hai chức năng cơ bản của tố tụng hình sự: chức năng buộc tội và chức năng bào chữa [38, tr. Chủ thể thực hiện các chức năng tố tụng này được tạo điều kiện “bình đẳng” với nhau trong việc bày tỏ ý kiến và bảo vệ ý kiến của mình trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án mà đỉnh điểm của quá trình này diễn ra tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự [38, tr. Nguyên tắc này được thừa nhận rộng rãi trên thế giới không chỉ ở những nước có mô hình tố tụng tranh tụng mà còn ở những nước có mô hình 8 tố tụng pha trộn (ví dụ như ở Việt Nam) [38, tr. Tuy có sự thể hiện ở các mức độ khác nhau, mặc dù có thể được thể hiện hoặc chưa thể hiện trong văn bản pháp luật cụ thể là BLTTHS thì nguyên tắc tranh tụng vẫn đang là cơ sở định hướng cho việc xây dựng quy định của BLTTHS cũng như thực hiện quá trình giải quyết vụ án để tìm ra sự thật khách quan.

Mặc dù đã xuất hiện và được thừa nhận từ rất lâu trong lịch sử tư pháp ở các nước phát triển khác, nhưng vấn đề tranh tụng cũng như nguyên tắc tranh tụng rất ít được nghiên cứu ở Việt Nam và đặc biệt cho đến trước năm 2013 thì nó chưa được thừa nhận trong các văn bản pháp lý chính thức của Nhà nước [50, tr. Sự thừa nhận mang tính sơ khai đầu tiên về tranh tụng ở Việt Nam trong các văn bản chính thức của Đảng đó chính là Nghị quyết 08/2002/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới, xác định“…việc phán quyết của tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, người bào chữa, bị cáo …để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định” [50, tr. Tiếp theo đó, vấn đề tranh tụng tiếp tục được Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” thể hiện, theo đó: “Nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp, chất lượng tranh tụng tại tất cả phiên tòa xét xử, coi đây là hoạt động đột phá của các cơ quan tư pháp” [50, tr. Quan điểm, chủ trương của Đảng về hoạt động tranh tụng tiếp tục được thể chế hóa ở Hiến Pháp 2013, tại khoản 5 Điều 103 quy định” nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo” [50, tr.

Nguyên tắc “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” được cụ thể hóa tại Điều 26 và Điều 322 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 quy định: “Bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến, đưa 9 ra chứng cứ, tài liệu và lập luận của mình để đối đáp với Kiểm sát viên về những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hinh sự, mức hình phạt; trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án; Bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có quyền đưa ra đề nghị của mình; Kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa… Hội đồng xét xử phải lắng nghe, ghi nhận đầy đủ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người tham gia tranh luận tại phiên tòa để đánh giá khách quan, toàn diện sự thật của vụ án” [36, tr. Từ đó chúng ta có thể đưa ra khái niệm Hoạt động tranh tụng của KSV tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự" đó là, quá trình tác động qua lại bằng việc tranh luận, đối đáp giữa KSV với các chủ thể khác từ khi khai mạc phiên tòa cho đến khi kết thúc phần tranh luận nhằm làm sáng rõ sự thật khách quan, làm rõ tất cả các tình tiết của vụ án, bảo vệ quan điểm của VKS trong Cáo trạng, giúp cho HĐXX ra một bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đặc điểm Hoạt động tranh tụng của KSV tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự (STVAHS) là một hoạt động đặc biệt, thể hiện ở một số đặc điểm sau đây: - Khi tham gia phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự, KSV là một chủ thể tranh luận đặc biệt. Bởi vì KSV tranh luận với tư cách nhân danh công quyền, đưa ra sự cáo buộc công khai đối với Bị cáo về hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm, nhằm bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của công dân bị xâm hại, bảo vệ pháp chế và kỷ cương xã hội.

Trong 10 khi đó, Bị cáo, Người bào chữa, Bị hại, Nguyên đơn dân sự, Bị đơn dân sự, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, Người đại diện hợp pháp và Người bảo vệ quyền lợi của đương sự là người tham gia tranh luận với tư cách là cá nhân công dân, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân họ hoặc người họ đại diện mà thôi. Sự đặc biệt còn thể hiện ở chỗ sự bắt buộc có mặt tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự của KSV. Theo quy định của BLTTHS thì tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự có mặt của những người tham gia tố tụng là không bắt buộc 100%, trong nhiều trường hợp tuy họ vắng mặt nhưng phiên tòa vẫn được tiến hành xét xử. Nhưng sự có mặt của KSV là bắt buộc, nếu KSV vắng mặt thì trong mọi trường hợp phải hoãn phiên tòa.

-Tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự, KSV không chỉ là chủ thể tranh tụng mà còn là chủ thể kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tranh tụng tại phiên tòa. Nhiệm vụ này xuất phát từ chức năng THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND. Những chủ thể tranh tụng khác như Bị cáo, Người bào chữa, Người bị hại… là đối tượng của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa. KSV tiến hành kiểm sát việc tranh tụng theo các nội dung như: tư cách chủ thể, trình tự, nội dung và phạm vi tranh tụng theo quy định của BLTTHS.

Như vậy, khi tranh tụng tại phiên tòa, KSV là người áp dụng và tuân thủ pháp luật, đồng thời giám sát việc tuân thủ pháp luật của các chủ thể khác. - Phải tôn trọng sự thật khách quan của vụ án.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Văn Thạc Sĩ: Hoạt Động Tranh Tụng Của Kiểm Sát Viên Tại Phiên Tòa Sơ Thẩm Hình Sự - Thực Tiễn Huyện Tuy An, Phú Yên là một nghiên cứu chuyên sâu về vai trò và hiệu quả của kiểm sát viên trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự. Tài liệu này phân tích thực tiễn tại huyện Tuy An, Phú Yên, làm nổi bật những thách thức và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tranh tụng. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về quy trình, kỹ năng cần thiết và tầm quan trọng của kiểm sát viên trong việc đảm bảo công lý.

Nếu bạn quan tâm đến chủ đề này, hãy khám phá thêm Luận văn thạc sĩ tranh luận của kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm hình sự từ thực tiễn thành phố biên hòa tỉnh đồng nai để có cái nhìn đa chiều từ một địa phương khác. Bên cạnh đó, Luận án tiến sĩ luật học thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sẽ giúp bạn hiểu sâu hơn về quyền công tố và vai trò của nó trong quá trình xét xử. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ luận tội của kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự sơ thẩm từ thực tiễn thành phố hà nội cung cấp thêm góc nhìn về kỹ năng luận tội của kiểm sát viên.

Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức mà còn giúp bạn có cái nhìn toàn diện về hoạt động tranh tụng và xét xử trong hệ thống tư pháp hình sự.