CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ TỈNH BÌNH DƯƠNG Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước. Trong hàng ngàn năm lịch sử ấy, phụ nữ Việt Nam giữ một vai trò trọng yếu và hiển nhiên trong lịch sử dân tộc. Nhận thức tầm quan trọng đó, Cương lĩnh đầu tiên của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã chủ trương thành lập tổ chức riêng cho phụ nữ để lôi cuốn các tầng lớp phụ nữ tham gia cách mạng. Hội LHPN Việt Nam là tổ chức quần chúng, tập hợp rộng rãi các tầng lớp phụ nữ Việt Nam, hoạt động vì sự bình đẳng, phát triển của phụ nữ, chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của phụ nữ, là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Khái quát về Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam được quyết định thành lập vào ngày 20/10/1930 trong Hội nghị thống nhất Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (thành lập sau cách mạng tháng 8) và Hội Liên hiệp phụ nữ Giải phóng miền Nam Việt Nam (thành lập ngày 8/3/1961) diễn ra trong 3 ngày 10-12/6/1976 tại thành phố Hồ Chí Minh. Hội LHPN Việt Nam ra đời đã từng bước khẳng định vai trò, vị trí của mình, góp phần vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Trải qua các thời kỳ với các tên gọi khác nhau: Phụ nữ giải phóng (1930 – 1935), Phụ nữ dân chủ (1936 – 1939), Phụ nữ phản đế (1939 – 1941), Đoàn phụ nữ Cứu quốc (1941 – 1945), phụ nữ Việt Nam đã có nhiều hoạt động tích cực, sôi nổi đóng góp vào sự nghiệp cách mạng chung của cả nước. Hơn 80 năm xây dựng và trưởng thành, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam đã tổ chức thành công 12 kỳ Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc.
Bộ máy tổ chức Hội từ Trung ương đến cơ sở từng bước được củng cố và hoàn thiện. * Hội LHPN Việt Nam trước giai đoạn 1976 20 Hội LHPN Việt Nam trải qua bốn lần Đại hội (Đại hội I: 1950, Đại hội II: 1956, Đại hội III: 1961, Đại hội IV: 1974). Thời kỳ này, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam đã tích cực tham gia các hoạt động hưởng ứng lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hội LHPN Việt Nam phát động hàng loạt phong trào: "Nộp thuế nông nghiệp", mua "Công phiếu kháng chiến", "Lập kế hoạch gia đình", "Phụ nữ học cày, học bừa", "ủng hộ bộ đội", "nuôi quân diệt giặc", "dân công tiền tuyến", nữ du kích Hoàng Ngân.
Hội LHPN Việt Nam đã tích cực tham gia đấu tranh cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội cũng như tuyên truyền cho cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Nổi bật lúc bấy giờ là phong trào “Ba đảm đang”, đây là cống hiến lớn lao của phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà, đã trở thành biểu tượng của phong trào yêu nước của phụ nữ Việt Nam. Cùng với phụ nữ miền Bắc, phụ nữ miền Nam tích cực tham gia các phong trào, các hoạt động đấu tranh do Hội Phụ nữ Giải phóng tổ chức. Hội Liên hiệp phụ nữ Giải phóng đã tích cực vận động, tuyên truyền, tổ chức đông đảo đội ngũ cán bộ, hội viên tham gia đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang, công tác binh vận, địch vận, góp phần đánh bại các chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, “Chiến tranh cục bộ”, “Việt Nam hóa chiến tranh”, đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Pari, bảo vệ hòa bình.
Đặc biệt, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, cùng nhân dân cả nước, phụ nữ miền Nam đã phát huy khí thế cách mạng sôi sục, tích cực tham gia lực lượng khởi nghĩa ở các tỉnh, chăm sóc thương binh. góp phần vào thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. * Hội LHPN Việt Nam thời kỳ 1976 đến nay Hội nghị thống nhất Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam và Hội Liên hiệp phụ nữ Giải phóng miền Nam Việt Nam diễn ra trong 3 ngày 10-12/6/1976. Hội nghị thống nhất Hội Liên hiệp phụ nữ là sự kiện chính trị quan trọng đánh dấu bước trưởng thành mới của phụ nữ Việt Nam.
21 Sau khi thống nhất, Hội LHPN Việt Nam tập trung củng cố bộ máy và tổ chức cơ sở hội. Đồng thời, chú trọng công tác đào tạo cán bộ hội ở cơ sở để đáp ứng yêu cầu tình hình mới. Sau chiến tranh, tình hình kinh tế - xã hội ở hai miền gặp rất nhiều khó khăn. Hội Liên hiệp phụ nữ giải phóng miền Nam đã vận động chị em phụ nữ ở khắp các tỉnh miền Nam tập trung khôi phục và phát triển kinh tế, đẩy mạnh sản xuất, chăm lo đời sống nhân dân, ưu tiên hàng đầu là công tác cứu đói.
Hội LHPN Việt Nam tiếp tục phát động phong trào thi đua "Người phụ nữ mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc". Các phong trào như: “Hũ gạo tình thương”, “Lá lành đùm lá rách”… được phát động từ Thừa Thiên Huế trở vào các tỉnh khu V, đồng bằng Nam bộ, Hội đã tham gia đưa hàng nghìn tấn gạo, hàng triệu đồng cứu trợ cho đồng bào khó khăn. Đặc biệt, với thành tích thanh toán nạn mù chữ và các tệ nạn xã hội trong thời kỳ này phụ nữ miền Nam đáng được biểu dương nhất. Cũng trong thời gian này, Trung ương Hội đề ra phong trào thi đua chung cho tất cả các tỉnh thành trong cả nước.
Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã phát động hai cuộc vận động “Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình” và “Nuôi dạy con tốt, góp phần hạn chế trẻ em suy dinh dưỡng và bỏ học” trong cả nước; Phong trào thi đua "Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc” gắn với thực hiện Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" và đề ra 6 nhiệm vụ trọng tâm; Phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc” và hai cuộc vận động “Rèn luyện phẩm chất đạo đức: tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang”; “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch” gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Nhìn lại 12 nhiệm kỳ Đại hội và hơn 80 năm thành lập của Hội LHPN Việt Nam cho thấy, sự trưởng thành, lớn mạnh của Hội LHPN Việt Nam luôn gắn liền với các sự kiện trọng đại của đất nước, gắn liền với sự quan tâm, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, sự phối hợp chặt chẽ của các đoàn thể chính trị - xã hội và sự hưởng ứng nhiệt tình của cán bộ, hội viên phụ nữ trong cả nước. 22 Qua mỗi kỳ Đại hội, Hội LHPN Việt Nam đã có bước phát triển về hội viên, về tổ chức bộ máy, đặc biệt không ngừng đổi mới về nội dung và phương thức hoạt động nhằm đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của phong trào phụ nữ, góp phần đáng kể cho sự phát triển đất nước. Quá trình tái lập và phát triển đơn vị hành chính tỉnh Bình Dương sau 20 năm xây dựng và phát triển (1997 - 2017) Ngày 01/01/1997, tỉnh Bình Dương chính thức được tái lập diện tích tự nhiên của tỉnh sau khi tái lập là 2717 km2, dân số 679.
Với việc tái lập tỉnh Bình Dương, ngày 12/12/1996, Bộ Chính trị ban hành Quyết định số 118-QĐNS/TW thành lập Đảng bộ Bình Dương. Đến cuối tháng 8/1999, Chính phủ quyết định thành lập thêm 3 huyện: Dĩ An, Dầu Tiếng, Phú Giáo và các xã Định Thành thuộc huyện Dầu Tiếng, xã Bình An thuộc huyện Dĩ An. Ngày 10/12/2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 156/2003/NĐ-CP thành lập thêm phường Phú Lợi, xã Hiệp An (thị xã Thủ Dầu Một), xã Tam Lập (huyện Phú Giáo). Sau đó, ngày 17/11/2004, Chính phủ ban hành Nghị định số 190/2004/NĐ-CP điều chỉnh địa giới hành chính, thành lập xã thuộc các huyện Tân Uyên, Dầu Tiếng, Phú Giáo, cụ thể: thành lập 04 xã là Thạnh Hội, Hiếu Liêm, Đất Cuốc và Tân Hiệp thuộc huyện Tân Uyên; điều chỉnh địa giới hành chính xã An Linh lấy một phần diện tích thành lập xã An Thái thuộc huyện Phú Giáo; điều chỉnh địa giới hành chính xã Minh Tân, Long Hòa thuộc huyện Dầu Tiếng.
Đến ngày 09/6/2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 73/2008/NĐ-CP điều chỉnh địa giới hành chính thành lập phường Hiệp An, phường Định Hòa, phường Phú Mỹ thuộc thị xã Thủ Dầu Một. Ngày 11/8/2009 Chính phủ ban hành Nghị quyết số 36/2009/NQ-CP điều chỉnh địa giới hành chính huyện Bến Cát, huyện Tân Uyên để mở rộng địa giới hành chính thị xã Thủ Dầu Một: thành lập phường Hòa Phú, phường Phú Tân thuộc thị xã Thủ Dầu Một; thành lập thị trấn Thái Hòa thuộc huyện Tân Uyên. Ngày 13/01/2011 Chính phủ ban hành Nghị 23 quyết số 04/NQ-CP thành lập thị xã Dĩ An, các phường thuộc thị xã Dĩ An và thành lập thị xã Thuận An, các phường thuộc thị xã Thuận An. Ngày 02/5/2012, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 11/NQ-CP thành lập thành phố Thủ Dầu Một thuộc tỉnh Bình Dương trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Thủ Dầu Một.
Ngày 29-12-2013, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 136/NQ-CP điều chỉnh địa giới hành chính huyện Bến Cát để thành lập thị xã Bến Cát và 05 phường thuộc thị xã Bến Cát, thành lập huyện Bàu Bàng (trên cơ sở các xã còn lại của huyện Bến Cát); điều chỉnh địa giới hành chính huyện Tân Uyên để thành lập thị xã Tân Uyên và 6 phường thuộc thị xã Tân Uyên, thành lập huyện Bắc Tân Uyên (trên cơ sở các xã còn lại của huyện Tân Uyên); thành lập 2 phường thuộc thị xã Thuận An và thành lập 3 phường thuộc thành phố Thủ Dầu Một. Như vậy, sau nhiều lần được điều chỉnh về địa giới, đơn vị hành chính cấp huyện và cấp xã, đến năm 2017 tỉnh Bình Dương có 09 đơn vị hành chính huyện gồm 01 thành phố, 4 thị xã, 4 huyện với 91 đơn vị hành chính cấp xã (48 xã, 41 phường, 02 thị trấn). Trong đó, thành phố Thủ Dầu Một là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của Tỉnh đã được công nhận đô thị loại 2 vào năm 2014. Bình Dương có vị trí đặc biệt quan trọng về chính trị, quân sự và kinh tế bởi nằm ở trung tâm của vùng Đông Nam Bộ, tiếp giáp với thành phố Hồ Chí Minh.