CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm 1. Nhân lực Hiện nay có rất nhiều những quan niệm, khái niệm có về nhân lực, có thể kể đến như sau: Khái niệm nhân lực hiện nay không còn xa lạ với nền kinh tế nước ta, tuy nhiên, thực tế hiện nay có quá nhiều khái niệm, quan niệm về nguồn nhân lực, tùy theo mục tiêu cụ thể mà người ta có những quan điểm nhận thức khác nhau về nguồn nhân lực, một số quan niệm phổ biến như sau: Nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh bên trong của con người, khả năng huy động năng lực, trình độ cũng như kinh nghiệm của bản thân để tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội (Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh 2012).
Theo Tổ chức Liên Hợp quốc thì “Nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước” (Nguyễn Sinh Cúc, 2014). Ở khái niệm cho biết, với những người được học hành đầy đủ, được trang bị các kiến thức, kỹ năng về văn hóa, xã hội và có kinh nghiệm của một nghề đào tạo nào đó và được tham gia làm việc ở một doanh nghiệp nhất định, lúc đó họ sẽ sử dụng toàn bộ khả năng về trình độ chuyên môn, kiến thức được học và kinh nghiệm của bản thân để tạo một giá trị lao động nhất định có ích cho doanh nghiệp, đó được xem là nhân lực. Một khái niệm khác về nhân lực cũng có thể gọi là toàn bộ những con người đang nằm trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động và tham gia lao động tạo ra của cải vật chất được gọi là nhân lực (Nguyễn Sinh Cúc, 2014). Riêng khái niệm này theo tác giả nó thể hiện khá ngắn nhưng rất đầy đủ, ở đây cho thấy toàn bộ những con người không cần biết là nam hay nữ, chủng tộc hay tôn giáo nào, chỉ cần nằm trong độ tuổi lao động theo quy định và phải có khả năng tham gia lao động thì đó được xem là 8 nhân lực.
Dưới góc độ kinh tế phát triển: Nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động (Nguyễn Sinh Cúc, 2014). Như vậy có thể nói khái niệm nhân lực hiện nay có quá nhiều cách hiểu, nhiều quan điểm, khái niệm và cách lập luận khác nhau của nhiều tác giả. Tuy nhiên, qua các cách hiểu như trên, có thể thấy khái niệm nhân lực cơ bản nó là sức lực, là nội lực bên trong con người, ở những con người còn nằm trong độ tuổi lao động và tham gia vào hoạt động lao động để tạo ra giá trị sản phẩm có ích cho kinh tế xã hội. Được hiểu: “Nhân lực trong doanh nghiệp là tất cả mọi cá nhân tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Nó bao gồm các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Nhân lực được coi là một nguồn vốn, một nguồn tài nguyên quý báu của doanh nghiệp. Do vậy nếu doanh nghiệp biết cách sử dụng và khai thác hợp lý thì đó là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp có thể tồn tại, cạnh tranh và phát triển được ở hiện tại và trong tương lai”. Quản trị nhân lực Quản trị nhân lực có thể được hiểu là những hoạt động của một chủ doanh nghiệp nào đó họ sử dụng để điều hành người lao động trong doanh nghiệp đó, nhằm tạo ra một hiệu quả trong việc quản lý và điều hành nhân sự, góp phần mang lại hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Từ cách hiểu đó, quản trị nhân lực theo học viên được hiểu nó là một chuỗi các hoạt động của chủ doanh nghiệp sử dụng để quản lý, điều hành toàn người lao động trong doanh nghiệp họ quản lý để tạo ra giá trị lao động cao, giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu đề ra cũng như góp phần đưa doanh nghiệp phát triển bền vững và lâu dài. Tầm quan trọng của quản trị nhân lực Từ cách hiểu về quản trị nhân lực và khái niệm có liên quan đến nhân lực, có thể thấy tầm quan trọng của quản trị nhân lực trong doanh nghiệp như sau: - Hoạt động quản trị nhân lực trong doanh nghiệp nếu được thực hiện tốt sẽ giúp cho doanh nghiệp chủ động được nhân lực, không bị thiếu hụt nhân lực trong quá trình SXKD, đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh được diễn ra thông suốt. 9 - Quản trị nhân lực thực hiện tốt giúp người lao động trong doanh nghiệp chủ động được công việc, xác định rõ vị trí việc làm việc và chủ động nhiều hơn trong công việc. - Quản trị nhân lực tạo môi trường làm việc thuận lợi, không khí làm việc vui vẻ, đảm bảo nâng cao hiệu quả làm việc cho người lao động.
Nội dung của quản trị nhân lực trong doanh nghiệp 1. Hoạch định nhân lực Hoạch định nhân lực là một hoạt động rất quan trọng và luôn được các chủ doanh nghiệp chú trọng, quan tâm và luôn tìm cách thực hiện tốt, mỗi doanh nghiệp có mỗi cách thức hoạt động khác nhau nên hoạt động hoạch định nhân lực cũng không giống nhau. Có doanh nghiệp hoạch định dài hạn từ 3 đến năm 5 năm, cũng có doanh nghiệp hoạt động chỉ có thời gian hoạch định ngắn 1 năm. Về cơ bản, hoạt động hoạch định nhân lực của doanh nghiệp luôn được chủ doanh nghiệp quan tâm và thực hiện để đảm bảo hiệu quả SXKD.
Qúa trình hoạt định nhân lực trong doanh nghiệp thường bao gồm nhiều giai đoạn: Qúa trình hoạch định nhân lực Phân tích Xác định cung công việc cầu thị trường lao động Cơ chế, chính sách: lương, thưởng, môi Xây dựng cơ trường làm việc chế, chính sách cho người Tuyển dụng, đào lao động tạo và phát triển, đánh giá THCV Hình 1. Quá trình hoạch định nhân lực (Nguồn: Trần Kim Dung, 2018) 10 Qúa trình hoạt định nhân lực trong doanh nghiệp được xác định qua các hoạt động phân tích công việc và xác định cung cầu thị trường lao động. Việc phân tích công việc trong doanh nghiệp nhằm giúp doanh nghiệp có cái nhìn và đánh giá chính xác về thực trạng hoạt động công việc của từng vị trí người lao động trong doanh nghiệp. Doanh nghiệp nếu thực hiện tốt việc phân tích công việc sẽ giúp chủ động bố trí người la động làm việc đúng chuyên môn và sở trường của từng người, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Bên cạnh đó, việc xác định cung cầu thị trường lao động giúp cho doanh nghiệp chủ động được nhân lực của mình, việc xác định cung cầu ở thị trường lao động có vai trò rất quan trọng, nó không chỉ giúp cho doanh nghiệp chủ động nhân lực của mình trong các hoạt động của mình, đồng thời giúp doanh nghiệp có thể điều chỉnh lại các cơ chế, chính sách về lương, tiền thưởng cũng như các chế độ phúc lợi cho người lao động, đảm bảo mang tính lâu dài và bền vững, giúp giữ chân người lao động giỏi trong doanh nghiệp (Trần Kim Dung, 2018). Tuyển dụng nhân lực Tuyển dụng nhân lực được xem là hoạt động mang tính chất quan trọng mà doanh nghiệp thực hiện để bù đáp sự thiếu hụt về lao động trong doanh nghiệp đó, là quá trình mà doanh nghiệp thực hiện để tìm kiếm, lựa chọn được ứng viên thích hợp, đảm bảo về trình độ chuyên môn và năng lực công tác để góp phần nâng cao hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hoạt động tuyển dụng nhân lực trong doanh nghiệp thường bao gồm nhiều bước, tuỳ đặc thù mỗi doanh nghiệp sẽ có những bước khác nhau trong quá trình tuyển dụng nhân lực của mình. Tuy nhiên, về cơ bản quá trình tuyển dụng nhân lực của doanh nghiệp thường bao gồm các bước: - Xác định nhu cầu tuyển dụng: là bước đầu tiên của quá trình tuyển dụng nhân lực, doanh nghiệp thường xác định các bộ phận, phòng ban trong doanh nghiệp thiếu hụt bao nhiêu, yêu cầu mỗi vị trí về trình độ nào, chuyên môn nào… làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch tuyển dụng.
- Xây dụng kế hoạch tuyển dụng: là việc doanh nghiệp tiến hành lập kế hoạch rõ về mục tiêu tuyển dụng, thời gian tuyển dụng, địa điểm cũng như số lượng và yêu cầu công tác tuyển dụng được thực hiện đảm bảo yêu cầu đề ra. 11 - Phê duyệt kế hoạch tuyển dụng: Sau khi kế hoạch tuyển dụng được lập, thường lãnh đạo doanh nghiệp sẽ tiến hành xem xét, chỉnh sửa nếu đảm bảo sẽ ban hành thực hiện. - Thông báo tuyển dụng: thông báo tuyển dụng là bản thông tin của doanh nghiệp về nội dung cần tuyển dụng, số lượng cần tuyển dụng, trình độ và yêu cầu khác có liên quan mà doanh nghiệp cần tuyển dụng. Các doanh nghiệp thường tiến hành ban hành thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, bản tin nội bộ công ty, hay báo chí, internet… để ứng viên đọc và tiến hành ứng tuyển.
- Tiến hành tuyển dụng: Đây là hoạt động gồm nhiều bước, trong đó doanh nghiệp tiến hành tiếp nhận hồ sơ của ứng viên, sàn lọc những hồ sơ đạt yêu cầu và tiến hành phỏng vấn, thi tuyển tuỳ theo đặc thù mỗi doanh nghiệp. - Ra quyết định tuyển dụng: Nếu ứng viên phỏng vấn hoặc thi tuyển đạt yêu cầu sẽ được được doanh nghiệp chính thức tuyển dụng bằng việc ra quyết định tuyển dụng vào làm việc tại doanh nghiệp. Đào tạo và phát triển nhân lực 1. Đào tạo nhân lực Đào tạo nhân lực trong doanh nghiệp được xem là hoạt động mà doanh nghiệp thực hiện để nâng cao trình độ, chuyên môn cho người lao động trong doanh nghiệp đó, nhằm đảm bảo nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp.