CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 1. Một số khái niệm về trường Đại học công lập 1.
Khái niệm trường Đại học công lập Theo Ngô Thế Chi: “Nhà trường trong hệ thống giáo dục đại học quốc dân được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục và được tổ chức theo các loại hình công lập, bán công, dân lập, tư thục. Các loại hình này đều chịu sự quản lý của Nhà nước, của các cơ quan quản lý giáo dục theo sự phân công, phân cấp của Chính phủ” [11]. “Đại học công lập là cơ sở đào tạo thuộc sở hữu Nhà nước, do NSNN đầu tư vốn để xây dựng phòng học, nhà làm việc, thư viện và các tài trợ khác thuộc phạm vi xây dựng cơ bản của mỗi cơ sở đại học công lập. Mọi khoản chi phí cho quá trình hoạt động (từ tiền lương, phụ cấp, vật tư văn phòng, mua sắm TSCĐ…) cũng chủ yếu lấy từ nguồn vốn cấp phát NSNN.
Chính vì vậy, cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý, phục vụ, mức tiền lương, tiền thưởng của cơ sở đào tạo đại học công lập đều phải tuân thủ nguyên tắc của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền”[3]. Theo Luật giáo dục đại học số 08/2012/QH13 năm 2012 thì cơ cấu tổ chức trường đại học gồm: Hội đồng đại học; Giám đốc, phó giám đốc; Văn phòng, ban chức năng; Trường đại học thành viên; viện nghiên cứu khoa học thành viên; Khoa, trung tâm nghiên cứu khoa học và công nghệ; Tổ chức phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học và triển khai ứng dụng, cơ sở sản xuất và kinh doanh, dịch vụ; Phân hiệu (nếu có) và Hội đồng khoa học và đào tạo, các hội đồng tư vấn. Nhiệm vụ, quyền hạn của trường Đại học công lập Theo Luật giáo dục đại học số 08/2012/QH13, các trường đại học nói chung và các trường đại học công lập nói riêng có những nhiệm vụ và quyền hạn như sau: 6 - Xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển cơ sở giáo dục đại học. - Triển khai hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế, đảm bảo chất lượng giáo dục đại học.
- Phát triển các chương trình đào tạo theo mục tiêu đã xác định, đảm bảo sự liên thông giữa các chương trình và trình độ đào tạo. - Tổ chức bộ máy; tuyển dụng, quản lý, xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý, viên chức người lao động. - Quản lý người học, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của giảng viên, viên chức, nhân viên, cán bộ quản lý và người học; dành kinh phí để thực hiện chính sách xã hội đối với đối tượng được hưởng chính sách xã hội, đối tượng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; đảm bảo môi trường sư phạm cho hoạt động giáo dục. - Tự đánh giá chất lượng đào tạo và chịu sự kiểm định chất lượng giáo dục.
- Được Nhà nước giao hoặc cho thuê đất, cơ sở vật chất; được miễn giảm thuế theo quy định của pháp luật. - Huy động quản lý, sử dụng các nguồn lực; xây dựng và tăng cường cơ sở vật chất, đầu tư trang thiết bị. - Hợp tác với các tổ chức kinh tế, giáo dục, văn hóa, thể dục, thể thao, y tế, nghiên cứu khoa học trong nước và nước ngoài. - Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo và chịu sự kiểm tra, thanh tra của Bộ Giáo dục và đào tạo, các bộ ngành có liên quan và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi cơ sở giáo dục đại học đặt trụ sở hoặc có tổ chức hoạt động đào tạo theo quy định.
- Các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật. Giáo dục là những hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch nhằm truyền cho những lớp người mới những kinh nghiệm đấu tranh và sản xuất, những tri thức về tự nhiên và xã hội, về tư duy để họ có đầy đủ những kinh nghiệm, năng lực tham gia vào lao động sản xuất và đời sống xã hội. Ở một góc độ hẹp hơn, giáo dục được hiểu là việc trang bị những kiến thức và hình thành nhân cánh con người. Có thể nói giáo dục là quá trình bồi dưỡng, nâng đỡ sự trưởng thành về nhận thức 7 của con người, tạo ra những con người có đầy đủ kiến thức, năng lực hành vi, có khả năng sáng tạo.
Giáo dục được xem 20 như là quá trình tác động vào con người làm cho họ trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất dịnh. Giáo dục đại học có vai trò trọng yếu trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự phát triển của mỗi nước, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng khốc liệt trong thế giới toàn cầu hóa ngày nay. Ở bất kỳ quốc gia nào, hệ thống giáo dục Đại học cũng đóng vai trò then chốt trong sự phát triển kinh tế xã hội, dân cư của vùng và nhiều trường, nhiều quốc gia. Hệ thống các trường đại học công lập đóng vai trò chủ đạo trong quá trình định hướng phát triển cơ cấu ngành nghề của nền kinh tế thị trường.
Hệ thống các trường đại học công được thành lập từ nguồn NSNN, vì mục tiêu tạo ra cơ cấu nguồn nhân lực có trình độ cao phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế của một quốc gia. Bên cạnh hệ thống các trường đại học công, các trường đại học tư thục, đại học dân lập cũng rất phát triển, các tổ chức này cũng hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuân. Tuy nhiên, tính chất không vì mục tiêu lợi nhuận thể hiện và được nhận biết rõ ràng ở các trường công lập hơn là các trường tư thục. Hệ thống các trường đại học công đóng vai trò quan trọng, đem lại những lợi ích nằm ngoài phạm trù kinh tế (theo nghĩa là có thể lượng định bằng các thước đo chi phí – lợi ích thuần túy).
Lợi ích này không chỉ giới hạn trong mỗi cá nhân học viên mà lan tỏa ra toàn xã hội. Bởi vậy, vai trò của nhà nước trong việc xây dựng hệ thống giáo dục Đại học công là rất quan trọng. Với nguồn NSNN cấp để thành lập trường, xây dựng cơ sở vật chất và nguồn kinh phí cấp chi cho các hoạt động thường xuyên, hệ thống các trường đại học công đã và đang khẳng định vai trò và trách nhiệm trong sự nghiệp trồng người tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Phân loại trường Đại học công lập Trong quá trình phát triển, đặc biệt là trong những thập niên gần đây hệ thống giáo dục đại học ở các nước trên thế giới đã và đang có những biến đổi sâu sắc cả về quy mô, cơ cấu loại hình, mô hình đào tạo v.
với xu hướng đa dạng 8 hoá, chuyển từ giáo dục tinh hoa cho số ít sang nền giáo dục đại học đại chúng; từ tháp ngà kinh viện sang thực tiễn cuộc sống với những thay đổi sâu sắc cả về mục tiêu, nội dung, chương trình và phương pháp dạy học, cơ chế quản lý.Việc phân loại, phân cấp các trường đại học là rất cần thiết cho việc định hướng phát triển trong ngành giáo dục. Để phân loại các trường đại học công lập có thể căn cứ theo các tiêu chí sau: - Theo Quy định về phân loại, xếp hạng các tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công lập của Thủ tướng chính phủ ta có thể phân loại các trường Đại học công lập như sau[18]: + Đại học quốc gia, Học viện Hành chính quốc gia. + Đại học vùng, các trường đại học trọng điểm. + Các trường đại học còn lại.
- Theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP có thể phân loại các trường đại học công lập theo khả năng tự đảm bảo nguồn kinh phí cho hoạt động thường xuyên như sau: + Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động: Là đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên (≥100%); + Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động: Là đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên (≥10% và <100%), phần còn lại được NSNN cấp; + Đơn vị sự nghiệp do NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động: Là đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp (≤10%), đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu, KP hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động. Tổng quan về chi thường xuyên 1. Khái niệm CTX NSNN là quá trình phân phối, sử dụng nguồn lực tài chính của nhà nước nhằm trang trải những nhu cầu của các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội thuộc khu vực công, qua đó thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước ở các hoạt động sự nghiệp kinh tế, giáo dục và đào tạo, y tế, xã hội, văn hóa thông tin thể dục thể thao khoa học và công nghệ môi trường và các hoạt động sự nghiệp khác. 9 Tóm lại, CTX NSNN là quá trình phân phối, sử dụng quỹ NSNN để đáp ứng nhu cầu chi gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của nhà nước về quản lý kinh tế, xã hội.
Phân loại Nội dung của CTX rất đa dạng và phức tạp, sự phân loại ở các nước không giống nhau. Có nhiều cách phân loại CTX. Xét theo từng lĩnh vực chi, CTX được chia thành: + Chi cho các hoạt động sự nghiệp thuộc lĩnh vực văn xã: Các loại hình đơn vị tham gia vào lĩnh vực này như: Giáo dục – đào tạo, y tế, văn hoá - nghệ thuật, thể thao, báo chí, phát thanh - truyền hình,. một khi các đơn vị đó do Nhà nước thành lập và giao nhiệm vụ cho nó hoạt động.
+ Chi cho các hoạt động sự nghiệp kinh tế của Nhà nước: Các đơn vị thuộc loại này có kết quả hoạt động không phục vụ riêng cho một ngành nào mà phục vụ cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân như: sự nghiệp giao thông, nông nghiệp, thuỷ lợi, ngư nghiệp, lâm nghiệp, khí tượng - thuỷ văn … + Chi cho các hoạt động quản lý nhà nước: Khoản chi này phát sinh ở hầu hết các ngành trong nền kinh tế quốc dân.