Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm sinh lý của lợn con 1. Đặc điểm về sinh trưởng Lợn con có tốc độ sinh trưởng nhanh và không đồng đều qua các giai đoạn. Nhanh nhất là ở 21 ngày tuổi đầu, sau đó tốc độ có phần giảm xuống do lượng sữa của lợn mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng hemogobin trong máu lợn con giảm (Phạm Quang Hùng, 2006) [8].
Trong quá trình sinh trưởng của con vật, xương phát triển đầu tiên rồi đến cơ và cuối cùng là mỡ. Từ sơ sinh đến trưởng thành thì lợn tăng khối lượng nhanh, sau trưởng thành tăng khối lượng rất chậm rồi ngừng hẳn. Khi con vật lớn lên khối lượng kích thước các cơ quan, các bộ phận của chúng không tăng lên một cách đều đặn, trái lại tăng với các mức độ khác nhau (Vũ Duy Giảng, 2003) [3]. Và quy luật sinh trưởng phát triển của gia súc nói chung cũng như của lợn nói riêng đều tuân theo quy luật tự nhiên của sinh vật: Quy luật sinh trưởng không đồng đều, quy luật phát triển theo giai đoạn và chu kỳ.
Cường độ sinh trưởng thay đổi theo tuổi, tốc độ tăng khối lượng cũng vậy, các cơ quan bộ phận khác nhau trong cơ thể cũng sinh trưởng phát triển khác nhau. Ví dụ: Cơ thể lợn còn non tốc độ sinh trưởng của các cơ bắp phát triển mạnh hơn do đó cần tác động thức ăn sao cho lợn phát triển đạt khối lượng nhanh, tăng tỉ lệ nạc ở giai đoạn đầu 1. Đặc điểm tiêu hóa Trong thời gian bú sữa khối lượng bộ máy tiêu hóa tăng lên từ 10 -15 lần, chiều dài ruột non tăng lên gấp 5 lần. Dung tích bộ máy tiêu hoá cũng tăng lên 40-50 lần.
Tuyến tụy ở 30 ngày tuổi tăng lên gấp 4 lần, khối lượng của gan gấp 3 lần so với khi sơ sinh. Lúc mới sinh dạ dày chỉ nặng 6 - 8 gam 4 và chứa được 35 - 50 gam sữa, nhưng sau 3 tuần đã tăng gấp 4 lần và sau 60 ngày tuổi nặng 150 gam và chứa được khoảng 700 -1000 gam sữa. Mặc dù bộ máy tiêu hoá phát triển rất nhanh nhưng chưa hoàn thiện. Khả năng tiêu hoá của lợn con còn rất kém do số lượng và hoạt lực các men trong đường tiêu hoá của lợn con hạn chế.
Dịch vị của lợn con dưới một tháng tuổi hoàn toàn không có HCl tự do, vì lượng axit tiết ra ít và nó nhanh chóng liên kết với các niêm dịch làm cho hàm lượng HCl tự do rất ít hoặc hoàn toàn không có trong dạ dày của lợn con bú sữa. Do thiếu HCl tự do trong dạ dày, nên hệ vi sinh vật dễ lên men gây nên hiện tượng tiêu chảy ở lợn con. Đặc điểm về điều tiết thân nhiệt Cơ năng điều tiết nhiệt ở lợn con là chưa hoàn chỉnh, và thân nhiệt chưa được ổn định. Để có khả năng điều tiết tốt nhiệt cần có 3 yếu tố: Thần kinh, mỡ và nước.
Cơ thể lợn con thường sinh ra lượng nhiệt lớn, nhiệt lượng của cơ thể liên tục toả ra bên ngoài do sự chênh lệch giữa thân nhiệt của cơ thể với nhiệt độ môi trường bên ngoài. Nhiệt độ cơ thể luôn có xu hướng giảm do: Lông của lợn con thưa, lớp mỡ dưới da mỏng, diện tích bề mặt so với khối lượng cơ thể cao nên khả năng chống lạnh kém, lượng mỡ và glycogen dự trữ trong cơ thể thấp nên khả năng cung cấp năng lượng chống lạnh bị hạn chế. Hệ thần kinh điều khiển thân nhiệt của lợn con chưa được hoàn thiện. Trong giai đoạn này lợn con có khả năng điều hoà thân nhiệt là do sự hoạt động rất mạnh của hệ tuần hoàn cũng như sự thay đổi tư thế của lợn.
Cần phải sưởi ấm đảm bảo cho lợn con không bị lạnh. Sau 3 tuần tuổi, khả năng điều hòa thân nhiệt của lợn con bắt đầu ổn định. Đặc điểm về khả năng miễn dịch Khả năng miễn dịch của lợn con ở 3 tuần tuổi đầu hoàn toàn phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được từ sữa lợn mẹ. Trong sữa của lợn mẹ có chứa hàm lượng γ-globulin cao.
Thành phần sữa đầu biến đổi rất nhanh, 5 protein 18-19% giảm còn 7% trong vòng 24 giờ, tỷ lệ γ-globulin trong sữa đầu cũng giảm từ 50% xuống còn 27%. Lợn con khi sinh ra trong máu có rất ít kháng thể. Song lượng kháng thể có trong máu lợn con được tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu, do đó lợn con khả năng miễn dịch là hoàn toàn thụ động. Nó phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thụ nhiều hay ít từ sữa mẹ.
Quá trình hấp thu nguyên vẹn phân tử globulin bị giảm rất nhanh theo thời gian. Lợn con có thể hấp thu nguyên vẹn phân tử globulin vì trong sữa đầu có kháng men Antitripsin nó làm mất hoạt lực men Tripsin của tuyến tụy. Đồng thời khoảng cách giữa các tế bào vách ruột lợn con mới sinh rất lớn nên phân tử globulin được chuyển qua bằng con đường ẩm bào. Xuất phát từ đó chúng ta thấy được việc cho lợn con bú sữa đầu là rất quan trọng và việc cho bú càng sớm càng tốt.
Nhu cầu dinh dưỡng của lợn con 1. Nhu cầu về năng lượng Nhu cầu năng lượng của lợn con chủ yếu cần cho duy trì và tăng trưởng. Ngày đầu tiên sau khi sinh, một con lợn con nặng 1kg cần khoảng 900- 1000KJ (Dividich, 2007) [22]. Năng lượng này được đáp ứng từ năng lượng dự trữ trong cơ thể và năng lượng từ sữa đầu.
Tuy nhiên, năng lượng dự trữ trong cơ thể thấp khoảng 420KJ khối lượng sơ sinh. Vì vậy, lợn con phải hấp thu được khoảng 160g sữa đầu trên 1kg khối lượng sơ sinh để sống. Nhu cầu năng lượng của lợn con tăng theo tuần tuổi. Từ tuần tuổi thứ 3 lượng sữa mẹ bắt đầu giảm dần, trong khi đó tốc độ tăng trưởng của lợn con lại tăng nhanh.
Vì vậy cần bổ sung năng lượng ngoài nguồn sữa mẹ cho lợn con. Khi được 3 tuần tuổi, lượng thức ăn bổ sung chỉ cần khoảng 5% nhưng ở 5 tuần tuổi, lượng thức ăn cần tới 1/3 nhu cầu dinh dưỡng của lợn con (Frank Aherne và cs, 2006)[28]. 6 Thức ăn cung cấp năng lượng là thành phần chính trong khẩu phần của lợn. Lợn con đòi hỏi nguồn cung cấp giàu năng lượng và dễ tiêu.
Thức ăn cung cấp năng lượng cho lợn con được lấy từ 2 nguồn chính là các hạt ngũ cốc và dầu, mỡ. Các hạt ngũ cốc chứa nhiều tinh bột, có khả năng tiêu hóa cao và ngon miệng. Điểm hạn chế của chúng là thành phần axit amin không cân đối. Ngô thường được lựa chọn để phối hợp khẩu phần cho lợn con.
Dầu và mỡ có năng lượng trao đổi cao hơn so với các hạt ngũ cốc khoảng 2,25 lần (tính trên cùng đơn vị khối lượng). Nhu cầu về protein và các axit amin Protein liên quan đến quá trình phát triển của hệ cơ và tạo nạc. Trong chăn nuôi hiện nay, tỷ lệ nạc là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả kinh tế. Chính vì vậy khẩu phần của lợn cần đảm bảo đủ protein, đặc biệt là sự cân đối của các axit amin thiết yếu nhằm giúp cho quá trình tạo nạc tối đa.
Thông thường, khẩu phần thức ăn cho lợn con phải đảm bảo được 120 - 130g protein tiêu hóa/ đơn vị thức ăn, tương đương protein thô của khẩu phần là 17 - 19% (Nguyễn Quế Côi, 2006) [2]. Protein được tổng hợp từ các axit amin. Thứ tự nối tiếp nhau của các axit amin tạo nên cấu trúc sơ cấp của protein. Do đó, dinh dưỡng protein cũng có nghĩa là dinh dưỡng axit amin.
Trong quá trình tiêu hóa protein từ thức ăn được tiêu hóa thành các axit amin và được hấp thu vào máu. Các axit amin này sẽ được cơ thể tổng hợp nên protein đặc hiệu của mô và tế bào. Một phần axit amin được sử dụng để tạo năng lượng. Phần axit amin dư thừa sẽ bị bài xuất ra ngoài cơ thể.
Ở lợn con sinh trưởng, có 10 axit amin quan trọng mà cơ thể không tự tổng hợp được đó là: Phenylalanine, Lysine, Methionine, Tryptophan, Threonine, Histidine, Isoleucine, Valine, Leucine, Arginine. Các axit amin này được cung cấp từ nguồn thức ăn bên ngoài hoặc từ các axit amin công nghiệp. 7 Sự cân bằng các axit amin trong khẩu phần là rất cần thiết vì thiếu một trong các axit amin nói trên đều dẫn đến sự thiếu hụt protein của cơ thể, đồng thời gây lãng phí các axit amin khác. Theo D'Mello (dẫn Theo Lewis, 2001)[33], mất cân bằng axit amin làm giảm lượng thức ăn thu nhận ở gia súc non và có ảnh hưởng đến hiệu quả hấp thu của axit amin giới hạn thứ nhất.
Khái niệm protein lý tưởng cũng được tiểu ban dinh dưỡng lợn thuộc hội đồng nghiên cứu khoa học quốc gia Mỹ (NRC) áp dụng để ước tính nhu cầu protein và axit amin cho lợn nói chung và cho lợn con, lợn đang sinh trưởng nói riêng. Trong lần xuất bản thứ 10 (1998), bên cạnh các khuyến cáo về nhu cầu axit amin tổng số, NRC còn có các khuyến cáo rất cụ thể về nhu cầu axit amin tiêu hóa thực và tiêu hóa biểu kiến. * Mối quan hệ giữa năng lượng, protein và khả năng sinh trưởng của lợn con Mọi quá trình sinh học diễn ra trong cơ thể đều cần có năng lượng. Quan hệ giữa năng lượng và protein càng cân đối thì hiệu quả sử dụng thức ăn, năng suất, chất lượng càng cao.
Sản phẩm giàu protein nhưng nghèo năng lượng làm giảm tốc độ sinh trưởng và năng suất vật nuôi, hiệu quả sử dụng thức ăn kém. Khi cân đối khẩu phần, chúng ta cần quan tâm tới tỷ lệ năng lượng/ protein thô hay nói chính xác hơn là tỷ lệ năng lượng/lysine. Theo NRC (1998), lợn từ 5 - 10kg, nhu cầu năng lượng là 3265 kcal ME/kg, nhu cầu protein thô là 23,7%; tỷ lệ năng lượng/protein thô là 137,76. Lợn từ 10 - 20kg, nhu cầu năng lượng là 3.265kcal ME/kg, nhu cầu protein là 20,9%; tỷ lệ năng lượng/protein thô là 156,22.
Cũng Theo NRC (1998), số gam lysine tổng số/Mcal ME đối với lợn từ 3 -5kg là 4,59; lợn từ 5 - 10kg là 4,13 và lợn từ 10 - 20kg là 3,52. Tỷ lệ lysine/năng lượng có ảnh hưởng đến tốc độ tích lũy protein (PDR) ở lợn. Tốc độ tích lũy protein là số đo quan 8 trọng biểu thị tăng trưởng của mô nạc thân thịt lợn. Do đó, đây được coi là một chỉ tiêu quan trong trong chăn nuôi lợn thịt hiện nay.