Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 2011 - 2015, ngành du lịch tỉnh Bình Thuận đã khẳng định vị thế là một trong những trung tâm du lịch trọng điểm của cả nước với tốc độ tăng trưởng doanh thu ấn tượng, đạt mức tăng bình quân khoảng 30% mỗi năm. Tổng lượt khách du lịch đến với tỉnh đã tăng mạnh từ 2,65 triệu lượt vào năm 2011 lên 4,25 triệu lượt vào năm 2015, mang lại nguồn thu 7.600 tỷ đồng và đóng góp tới 7,3% vào tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP). Mặc dù sở hữu 192 km bờ biển cùng hệ thống di tích lịch sử và văn hóa phong phú, hoạt động khai thác du lịch tại địa phương vẫn bộc lộ nhiều điểm hạn chế mang tính khởi phát. Thực tế cho thấy có tới 67,29% du khách lựa chọn hình thức du lịch tự túc thay vì mua tour trọn gói từ các công ty lữ hành, trong khi 44% lực lượng lao động trong ngành chưa qua đào tạo chuyên môn bài bản.

Vấn đề đặt ra là việc thiếu quy hoạch đồng bộ, sản phẩm du lịch còn đơn điệu và công tác xúc tiến quảng bá chưa tương xứng đã làm giảm năng lực cạnh tranh của điểm đến Bình Thuận. Nhằm giải quyết thực trạng này, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản trị kinh doanh của tác giả Hoàng Thanh Liêm tập trung vào mục tiêu xác định và đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn điểm đến Bình Thuận của du khách nội địa. Nghiên cứu được triển khai tại các trung tâm du lịch trọng điểm như thành phố Phan Thiết, Hàm Tiến và Đồi Dương trong thời gian từ tháng 01/2016 đến tháng 04/2016. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa thực tiễn quan trọng khi cung cấp hệ thống luận cứ khoa học giúp các nhà hoạch định chính sách nâng tỷ lệ khách theo tour từ mức 32,71% năm 2015 lên mức mục tiêu cao hơn, đồng thời tối ưu hóa các điều kiện sẵn sàng đón tiếp khách.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự giao thoa của các lý thuyết quản trị tiếp thị và hành vi người tiêu dùng hiện đại. Trọng tâm của khung lý thuyết là Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) do Fishbein và Ajzen phát triển, nhấn mạnh rằng thái độ và chuẩn chủ quan là hai yếu tố định hình nên xu hướng hành vi và quyết định lựa chọn thực tế của khách hàng. Bên cạnh đó, luận văn kế thừa Mô hình hành vi mua của John A. Howard và Jagdish N. Sheth, mô hình này phân tích cách các yếu tố đầu vào như chất lượng, giá cả và dịch vụ đi qua "hộp đen ý thức" của người tiêu dùng để tạo ra phản hồi mua sắm. Lý thuyết nhân tố Đẩy và Kéo (Push - Pull Theory) của Crompton (1979) cùng Dann (1981) cũng được vận dụng để làm rõ động lực nội tại của du khách và sức hút đặc trưng từ thuộc tính của điểm đến.

Trong khuôn khổ đề tài, ba khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa bao gồm:

  • Hoạt động du lịch: Căn cứ theo Luật Du lịch Việt Nam 2005, là các hoạt động liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí và nghỉ dưỡng trong thời gian dưới 12 tháng.
  • Điểm đến du lịch: Theo định nghĩa của TS. Nguyễn Quyết Thắng (2009) và Hwang et al. (2006), là không gian địa lý sở hữu tài nguyên du lịch hấp dẫn, nơi du khách thực hiện hành trình nhằm thỏa mãn các nhu cầu chuyên biệt.
  • Chất lượng dịch vụ du lịch: Tiếp cận theo tiêu chuẩn ISO 8402 và mô hình của Zeithaml & Bitner (2000), phản ánh mức độ đáp ứng kỳ vọng của khách hàng thông qua chuỗi trải nghiệm trực tiếp.

Từ các nền tảng lý thuyết trên, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu gồm 6 nhân tố độc lập tác động trực tiếp đến sự lựa chọn điểm đến: Nguồn nhân lực du lịch, Sự đa dạng về sản phẩm và dịch vụ, Giá cả dịch vụ hợp lý, Điểm đến an toàn, Môi trường tự nhiên, và Cơ sở hạ tầng du lịch.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng quy trình kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng. Giai đoạn định tính được tiến hành vào tháng 02/2016 thông qua kỹ thuật thảo luận nhóm chuyên gia bao gồm đại diện Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Thuận, ban giám đốc Công ty TNHH Toàn Thịnh Phát cùng các nhà quản lý tại khách sạn Đồi Dương và resort Hải Gia. Kết quả thảo luận đã giúp hiệu chỉnh và thiết lập bảng câu hỏi khảo sát gồm 30 biến quan sát, sử dụng thang đo khoảng cách Likert 5 mức độ từ 1 (Hoàn toàn không đồng ý) đến 5 (Hoàn toàn đồng ý).

Giai đoạn định lượng sử dụng phương pháp lấy mẫu thuận tiện phi xác suất với đối tượng khảo sát là khách du lịch nội địa đang lưu trú và trải nghiệm tại tỉnh Bình Thuận. Quy mô mẫu tối thiểu được xác định theo nguyên tắc của Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008) với công thức $N \ge 8 \times M + 50$, trong đó $M = 6$ nhân tố, tương ứng cỡ mẫu yêu cầu tối thiểu là 98. Tác giả đã phát ra 325 phiếu khảo sát và thu về 301 phiếu hợp lệ, đạt tỷ lệ phản hồi giá trị là 92,6%. Dữ liệu sơ cấp được xử lý trên phần mềm SPSS 20.0 qua ba bước phân tích chuyên sâu:

  1. Đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha nhằm loại các biến có hệ số tương quan biến - tổng nhỏ hơn 0,3.
  2. Phân tích nhân tố khám phá EFA với phép trích Principal Components và phép xoay Varimax để kiểm tra giá trị hội tụ và giá trị phân biệt.
  3. Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến theo phương pháp Enter cùng các kiểm định Independent Samples T-test và ANOVA để đánh giá mức độ tác động và sự khác biệt về hành vi theo nhân khẩu học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích định lượng từ 301 mẫu hợp lệ đã chứng minh 6 thang đo thành phần với 30 biến quan sát đều đạt chuẩn độ tin cậy Cronbach's Alpha (tất cả các hệ số đều vượt ngưỡng 0,70) và các chỉ tiêu phân tích EFA đều thỏa mãn điều kiện với hệ số KMO lớn hơn 0,5, giá trị kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê ($p < 0,001$) và tổng phương sai trích đạt trên 50%. Kết quả hồi quy tuyến tính đa biến khẳng định toàn bộ 6 nhân tố trong mô hình đều có tác động thuận chiều có ý nghĩa thống kê đến quyết định lựa chọn điểm đến Bình Thuận của du khách trong nước.

Đáng chú ý, nhân tố Môi trường tự nhiên và Điểm đến an toàn thể hiện mức độ chi phối mạnh mẽ nhất đến quyết định của khách du lịch. Cảnh quan biển đảo đặc sắc cùng khí hậu nắng ấm quanh năm đóng vai trò như lực kéo then chốt. Tiếp theo là các yếu tố Cơ sở hạ tầng du lịch và Giá cả dịch vụ hợp lý. Sự đa dạng dịch vụ và Nguồn nhân lực cũng ghi nhận tác động tích cực nhưng ở mức độ thấp hơn. Bên cạnh đó, kiểm định ANOVA và T-test chỉ ra sự khác biệt rõ rệt về cảm nhận giữa các nhóm du khách: nhóm khách trẻ tuổi quan tâm nhiều hơn đến yếu tố giá cả và sự đa dạng của các hoạt động vui chơi giải trí, trong khi nhóm khách trung niên và cao tuổi đặt tiêu chí an toàn và sự trong lành của môi trường tự nhiên lên hàng đầu.

Thảo luận kết quả

Khi xem xét dữ liệu thống kê, các mối quan hệ tác động trong mô hình hồi quy tuyến tính có thể được biểu diễn trực quan thông qua đồ thị thanh hệ số hồi quy chuẩn hóa Beta, giúp các nhà quản trị nhận diện ngay thứ tự ưu tiên của các biến độc lập. Đồng thời, cấu trúc thị hiếu của các phân khúc khách hàng theo độ tuổi và nghề nghiệp có thể được minh họa sinh động qua biểu đồ phân tán hoặc biểu đồ mạng nhện (radar chart), phản ánh rõ nét sự phân hóa trong hành vi tiêu dùng du lịch.

Kết quả nghiên cứu này có sự tương đồng sâu sắc với công trình của tác giả Mai Khanh (2015) khi nghiên cứu về chất lượng dịch vụ du lịch tại Phú Yên, nơi yếu tố môi trường du lịch giữ trọng số ảnh hưởng cao nhất với hệ số Beta chuẩn hóa đạt 0,352. Kết quả cũng củng cố nhận định của Phan Văn Huy về tầm quan trọng cốt lõi của tài nguyên thiên nhiên và hạ tầng giao thông. Tuy nhiên, việc Nguồn nhân lực có mức độ tác động thấp hơn kỳ vọng phản ánh đúng thực trạng tại Bình Thuận: 44% nhân lực trực tiếp chưa qua đào tạo chính quy và chỉ 5% có trình độ đại học trở lên. Khách du lịch nội địa hiện nay chủ yếu tự trải nghiệm phong cảnh và thiên nhiên hơn là dựa vào sự hướng dẫn chuyên nghiệp của đội ngũ nhân viên lữ hành, lý giải cho việc tỷ lệ khách đi theo tour chỉ chiếm 32,71% trong tổng lượng khách năm 2015.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực nghiệm, tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp chiến lược nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút du khách nội địa đến Bình Thuận:

  1. Nâng cấp và chuẩn hóa nguồn nhân lực: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Thuận chủ trì phối hợp cùng các trường đại học, cao đẳng triển khai ngay các khóa đào tạo chuẩn kỹ năng nghề du lịch cho 100% nhân viên và hướng dẫn viên. Mục tiêu đặt ra trong giai đoạn 2016 - 2020 là kéo giảm tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo từ 44% xuống dưới 20%, nâng tỷ lệ nhân sự có chứng chỉ nghề chuẩn hóa lên trên 60%.
  2. Quản lý giá cả và thiết lập môi trường minh bạch: Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận cùng Sở Tài chính chỉ đạo các ban quản lý khu du lịch bắt buộc 100% cơ sở lưu trú, nhà hàng và điểm tham quan niêm yết giá công khai. Duy trì đường dây nóng hỗ trợ du khách 24/7 với cam kết xử lý phản ánh về tình trạng gian lận thương mại hoặc ép giá trong vòng tối đa 30 phút.
  3. Phát triển sản phẩm và đa dạng hóa dịch vụ giải trí: Các doanh nghiệp lữ hành và cơ sở lưu trú cần đầu tư xây dựng tối thiểu 5 đến 7 gói sản phẩm trải nghiệm mới mỗi năm, kết hợp giữa thể thao mạo hiểm trên biển (lướt ván buồm, đua mô tô nước) với du lịch văn hóa tâm linh Chăm (tháp Pô Sah Inư, lễ hội Katê), hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ du khách mua tour trọn gói từ 32,71% lên 45% vào năm 2020.
  4. Hoàn thiện hạ tầng giao thông và hệ thống kỹ thuật phụ trợ: Sở Giao thông Vận tải phối hợp cùng các bộ, ngành đẩy nhanh tiến độ hiện đại hóa các tuyến huyết mạch như 180 km Quốc lộ 1A qua địa bàn tỉnh, Quốc lộ 28 và chuẩn bị kết nối dự án cao tốc Bắc - Nam; đồng thời tối ưu hóa công suất vận hành của 283 công trình thủy lợi với 213,5 triệu m3 nước, bảo đảm cung ứng 100% điện nước sinh hoạt ổn định cho các khu nghỉ dưỡng trong mùa cao điểm.
  5. Bảo tồn môi trường sinh thái và siết chặt an ninh trật tự: Công an tỉnh cùng Sở Tài nguyên và Môi trường tăng cường tuần tra liên ngành tại các bãi biển công cộng ở Phan Thiết và Mũi Né, ngăn chặn triệt để tình trạng chèo kéo, bán hàng rong và bảo đảm tỷ lệ 100% bãi tắm đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh môi trường.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị tham khảo và ứng dụng thực tiễn cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch (Sở VHTT-DL, UBND tỉnh Bình Thuận): Sử dụng mô hình 6 nhân tố và cơ sở dữ liệu thực nghiệm để hoạch định chiến lược phát triển du lịch bền vững, xây dựng quy hoạch hạ tầng đồng bộ và ban hành các tiêu chuẩn quản lý chất lượng điểm đến.
  2. Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành, resort và khách sạn: Nắm bắt xu hướng hành vi của 67,29% du khách đi tự túc để tái cấu trúc gói dịch vụ linh hoạt (combo phòng và vé tham quan), cá nhân hóa trải nghiệm khách hàng và tối ưu hóa chính sách giá cạnh tranh.
  3. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Kinh tế, Quản trị kinh doanh, Du lịch học: Sử dụng thang đo 30 biến quan sát và quy trình phân tích định lượng chuẩn tắc (Cronbach's Alpha, EFA, hồi quy tuyến tính trên mẫu $N = 301$) làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo về hành vi người tiêu dùng.
  4. Chuyên viên tiếp thị và truyền thông điểm đến: Ứng dụng các phát hiện về sự khác biệt nhân khẩu học để thiết kế các chiến dịch quảng bá đa kênh, tập trung truyền tải hình ảnh an toàn, thân thiện và vẻ đẹp thiên nhiên hoang sơ đến các phân khúc du khách nội địa mục tiêu.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình nghiên cứu xác định những nhân tố nào ảnh hưởng đến việc chọn điểm đến Bình Thuận?
Mô hình khẳng định 6 nhân tố ảnh hưởng cùng chiều có ý nghĩa thống kê gồm: Môi trường tự nhiên, Cơ sở hạ tầng du lịch, Điểm đến an toàn, Giá cả dịch vụ hợp lý, Sự đa dạng về sản phẩm và Nguồn nhân lực. Toàn bộ 6 yếu tố này được kiểm định chặt chẽ trên mẫu khảo sát 301 du khách nội địa.

Vì sao kích thước mẫu 301 phiếu khảo sát được xem là đạt chuẩn về mặt thống kê?
Theo công thức xác định cỡ mẫu cho phân tích EFA của Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc ($N \ge 8 \times M + 50$), với 6 nhân tố nghiên cứu thì cỡ mẫu tối thiểu cần đạt là 98. Quy mô 301 mẫu hợp lệ thu được từ 325 phiếu phát ra vượt hơn 3 lần ngưỡng chuẩn, bảo đảm độ tin cậy cho kiểm định mô hình.

Thách thức lớn nhất đối với nguồn nhân lực du lịch Bình Thuận trong nghiên cứu là gì?
Thực trạng cho thấy có tới 44% lực lượng lao động ngành du lịch tại tỉnh chưa qua đào tạo chuyên môn và chỉ 5% sở hữu trình độ đại học hoặc trên đại học trong tổng số hơn 41.000 lao động. Hạn chế về kỹ năng nghề và ngoại ngữ làm giảm đáng kể khả năng nâng cao chất lượng dịch vụ của điểm đến.

Nguyên nhân nào khiến phần lớn du khách nội địa lựa chọn hình thức du lịch tự túc khi đến Bình Thuận?
Theo số liệu thống kê, tỷ lệ khách du lịch tự tổ chức chuyến đi chiếm từ 60% đến 69,76% trong giai đoạn 2012 - 2015. Nguyên nhân chủ yếu là do sự thuận tiện của trục giao thông 180 km Quốc lộ 1A và sự thiếu hụt các sản phẩm tour trọn gói mới lạ, hấp dẫn từ các đơn vị lữ hành địa phương.

Điểm mới mang tính đóng góp của luận văn so với các nghiên cứu trước đây là gì?
Trong khi các nghiên cứu trước tập trung vào đối tượng khách quốc tế tại Hội An hoặc khảo sát chất lượng dịch vụ chung tại Phú Yên, công trình này đi sâu phân tích toàn diện hành vi lựa chọn điểm đến của du khách nội địa tại Bình Thuận thông qua hệ thống thang đo 30 biến được chuẩn hóa bằng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp.

Kết luận

  • Luận văn đã xây dựng và kiểm định thành công mô hình 6 nhân tố tác động tích cực đến quyết định chọn điểm đến Bình Thuận của du khách trong nước.
  • Dữ liệu khảo sát từ 301 du khách nội địa xác nhận tính vững chắc của hệ thống thang đo với các chỉ số Cronbach's Alpha và phân tích EFA đạt chuẩn học thuật cao.
  • Phân tích thực trạng làm rõ nghịch lý giữa tăng trưởng doanh thu đạt 7.600 tỷ đồng với cơ cấu 67,29% du khách đi tự túc và 44% lao động chưa qua đào tạo.
  • Đề xuất hệ thống 5 giải pháp khả thi gắn liền với lộ trình nâng cấp hạ tầng giao thông 180 km Quốc lộ 1A và chuẩn hóa chất lượng nhân lực giai đoạn 2016 - 2020.
  • Đóng góp nguồn ngữ liệu khoa học giá trị giúp chính quyền địa phương và các doanh nghiệp nâng cao sức hút cạnh tranh cho du lịch Bình Thuận.

Đóng góp cốt lõi của công trình là cung cấp một khung phân tích thực nghiệm chuẩn xác về hành vi khách du lịch nội địa tại vùng Duyên hải Nam Trung Bộ. Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng khảo sát trên phân khúc khách quốc tế và ứng dụng mô hình phương trình cấu trúc tuyến tính (SEM) để kiểm tra các tác động trung gian. Các nhà quản lý và doanh nghiệp lữ hành hãy áp dụng ngay bộ tiêu chí từ nghiên cứu này để tối ưu hóa chiến lược định vị và phát triển sản phẩm du lịch bền vững.