CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP DU LỊCH 1. Các khái niệm liên quan 1. Nguồn nhân lực Trong tình hình nền kinh tế thế giới đang dần chuyển sang kinh tế tri thức, xu thế toàn cầu hoá đang diễn ra sâu rộng và nhanh chóng thì yếu tố NNL được coi là yếu tố quan trọng quyết định sự phát triển KTXH của mọi quốc gia. NNL là động lực cho sự phát triển kinh tế nói riêng và là động lực phát triển xã hội, con người nói chung.
Đại hội lần thứ XI của Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định: “Phát triển, nâng cao CLNNL, nhất là NNL chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững đất nước”. Vậy thế nào là NNL? Các khái niệm về “NNL” hay “nguồn lực con người” hay “tài nguyên con người” đang được sử sụng rất rộng rãi. Theo một số tác giả chương trình khoa học - công nghệ cấp Nhà nước: “Con người Việt Nam – mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế xã hội” mang mã số KX.TSKH Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm thì đây là những khái niệm đều được dịch từ cụm từ “human resources”, tuỳ cách dịch. Khái niệm NNL được sử dụng từ những năm 60 của thế kỷ XX ở nhiều nước phương Tây và một số nước Châu Á và giờ đây thịnh hành trên thế giới dựa trên quan niệm mới về vai trò, vị trí của con người trong sự phát triển.
Ở nước ta, khái niệm này được sử dụng rộng rãi từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay. Mặc dù đã có rất nhiều các bài viết về NNL, tuy nhiên vẫn chưa có tài liệu nào chính thức đưa ra định nghĩa về NNL. Ở những góc độ khác nhau sẽ có những quan niệm khác nhau về NNL. Trong báo cáo của Liên hợp quốc đánh giá về những tác động của toàn cầu hoá đối với NNL đã đưa ra định nghĩa: “NNL là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế, hoặc tiềm năng để phát triển KTXH trong một cộng đồng”.
Trong quan niệm này, điểm được đánh giá cao LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 là coi các tiềm năng của con người cũng là năng lực khả năng để từ đó có những cơ chế thích hợp trong quản lý, sử dụng. Một số nhà khoa học tham gia chương trình KX.07 cho rằng NNL được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực và phẩm chất. Theo Phạm Minh Hạc (2001): “NNL là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những NLĐ có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa”. Theo Nguyễn Tiệp (2005): NNL là nguồn lực con người, yếu tố quan trọng, năng động nhất của tăng trưởng và phát triển KTXH.
Trước hết với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, ở nghĩa rộng nhất thì “NNL bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động”, không phân biệt người đó đang được phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thể coi đây là NNL xã hội. Với tư cách là khả năng đảm đương lao động chính của xã hội thì “NNL được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động (do pháp luật lao động quy định)”. Với những quan niệm NNL khác nhau sẽ có những lý thuyết và cách tiếp cận khác nhau. Nhưng trong phạm vi đề tài này chúng ta có thể hiểu: NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, có tiềm năng về lao động (thể lực, trí lực, phẩm chất đạo đức…) và có khả năng huy động vào quá trình phát triển KTXH của đất nước trong một thời kỳ xác định.
Nguồn nhân lực ngành du lịch Từ những khái niệm trên về NNL, ta có thể định nghĩa NNL ngành DL như sau: NNL ngành DL là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, có tiềm năng về LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 lao động (thể lực, trí lực, phẩm chất đạo đức…) tham gia vào các hoạt động phục vụ cho ngành DL để duy trì và phát triển lĩnh vực này. NNL trong ngành DL là một bộ phận cấu thành lao động xã hội. Nó hình thành và phát triển trên cơ sở của sự phân công lao động xã hội nên nó mang mọi đặc điểm chung của lao động xã hội. Tuy nhiên, ngành công nghiệp DL là một lĩnh vực có nhiều đặc thù nên NNL ngành DL cũng có những nét đặc điểm riêng: - Lao động trong DL có tính chất chuyên môn hóa cao, mỗi bộ phận đòi hỏi một quy trình phục vụ thành thạo từ kỹ thuật phục vụ chuyển thành nghệ thuật phục vụ, đòi hỏi người nhân viên phải nắm kiến thức chuyên môn, có kỹ năng nghiệp vụ và đồng thời đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ với nhau trong quá trình phục vụ cho khách hàng.
Mặt khác, lao động trong DL có tính thay thế tất yếu, có ý nghĩa là nhân viên ở bộ phận này không thể làm thay thế cho nhân viên ở một bộ phận khác. Chính vì vậy, NLĐ cần ý thức rằng bản thân họ chính là một phần trong chất lượng dịch vụ chung của DN. - Thời gian làm việc của họ khó có thể định mức được, hoàn toàn phụ thuộc vào thời gian tiêu dùng của khách hàng. Vì vậy, NLĐ thường phải làm việc vào những ngày cuối tuần, ngày lễ, Tết và có thể làm đêm.
- Cường độ làm việc trong ngành DL không cao nhưng phải chịu sức ép tâm lý và làm việc trong môi trường phức tạp, phục vụ đối tượng khách hàng đến từ các vùng miền khác nhau, các quốc gia khác nhau và những nền văn hóa khác nhau. - Một trong những đặc thù lớn nhất của lao động trong ngành DL là tính chất thời vụ, chủ yếu thuộc vào sự phân bổ của tài nguyên du lịch, như du lịch biển, du lịch núi… tức là mọi loại hình DL có gắn với việc thưởng thức cảnh quan thiên nhiên thì chịu ảnh hưởng của thời tiết khí hậu, phong tục tập quán, hay quy ước xã hội… LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Lao động tại các doanh nghiệp du lịch 1. Phân loại Xét mức độ tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của ngành DL và của mỗi DN, NNL trong ngành DL có thể chia thành ba nhóm sau: - Nhóm lao động chức năng quản lý Nhà nước về DL: bao gồm những người làm việc trong các cơ quan quản lý Nhà nước từ Trung ương xuống đến địa phương như: Tổng cục DL, Sở Văn hóa, Thể thao và DL… Nhóm lao động này chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng thể, song đây là bộ phận nhân lực có trình độ cao, có hiểu biết tương đối toàn diện về chuyên môn.
- Nhóm lao động chức năng sự nghiệp ngành DL (đào tạo và nghiên cứu khoa học): bao gồm những người làm việc ở các cơ sở giáo dục, đào tạo như cán bộ giảng dạy, nghiên cứu ở các trường đại học, cao đẳng… và các viện khoa học về DL. Đây là bộ phận nhân lực có trình độ học vấn cao, có trình độ chuyên môn và am hiểu sâu sắc trong lĩnh vực DL. - Nhóm lao động chức năng kinh doanh DL: chiếm số lượng đông đảo nhất trong hoạt động của ngành DL và có thể chia thành bốn bộ phận nhỏ: + Bộ phận lao động chức năng quản lý chung của DN DL: là những người đứng đầu, nhà lãnh đạo thuộc các đơn vị kinh tế cơ sở như: DN kinh doanh khách sạn, vận tải, lữ hành… Nhiệm vụ của họ là tổ chức và điều hành công việc nhằm đạt mục đích kinh doanh có hiệu quả cao. + Bộ phận lao động chức năng quản lý theo các nghiệp vụ kinh tế trong DN DL: bao gồm lao động thuộc các phòng chức năng như: phòng kế hoạch – đầu tư, phòng tài chính – kế toán, phòng tổng hợp… Nhiệm vụ chính của bộ phận này là tổ chức hách toán kinh doanh, tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp và các hoạt động kinh doanh.
+ Bộ phận lao động chức năng đảm bảo điều kiện kinh doanh của DN DL: bao gồm những người gián tiếp cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho khách hàng. Nhiệm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 vụ chính của họ là cung cấp những nhu yếu phẩm và phương tiện làm việc cho NLĐ thuộc các bộ phận khác trong DN. + Bộ phận lao động trực tiếp cung cấp dịch vụ cho khách hàng trong DN DL (lao động trực tiếp kinh doanh DL): bao gồm những lao động trực tiếp tham gia vào quá trình kinh doanh DL. Bộ phận lao động này chiếm phần lớn trong toàn bộ NNL ngành DL và thuộc nhiều ngành nghề khác nhau như: nhân viên lễ tân, dọn phòng, đầu bếp, nhân viên phục vụ, tài xế… Họ là những người trực tiếp cung cấp sản phẩm, dịch vụ DL đến khách hàng và là “bộ mặt” của DN DL.
Doanh nghiệp du lịch Theo Bách khoa toàn thư mở thì DN là một tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Cũng theo Luật doanh nghiệp (2005) giải thích, kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Như vậy DN là một đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, có giấy phép đăng ký kinh doanh và sử dụng các yếu tố đầu vào để tạo ra hàng hóa và dịch vụ. Mục tiêu của DN là tối đa hóa lợi nhuận, hay đạt được các mục tiêu liên quan khác như tối đa hóa doanh thu hay tăng trưởng.
Các quyết định sản xuất cơ bản của DN là: xác định sản lượng hàng hóa và dịch vụ sẽ được sản xuất, vốn và nguồn lực khác được sử dụng để tạo đầu ra hiệu quả nhất. Ngành DL được xác định là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao.