mở đầu cho hàng loạt các công trình nghiên cứu và ứng dụng về KSNB LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 dưới nhiều góc độ khác nhau: Dưới góc độ phục vụ cho quản trị doanh nghiệp, nhiều công trình tiếp tục phát triển các kỹ thuật đánh giá hệ thống KSNB để hạn chế rủi ro. Nhiều công ty tư vấn đã phát triển các dịch vụ tư vấn về KSNB. Gần đây, COSO xúc tiến việc xây dựng Khuôn khổ Đánh giá rủi ro doanh nghiệp (Enterprise Risk Management Franmework – viết tắt ERM) trên cơ sở của bá o cáo COSO 1992. Bản dự thảo đã hình thành và công bố vào tháng 7.
Dưới góc độ KSNB trong môi trường máy tính, năm 1996 Hiệp hội Kiểm soát và Kiểm toán Thông tin (Information System Audit and Control Association – viết tắt IACA) đã đưa ra các mục tiê u kiểm soát cho công nghệ thông tin và các kỹ thuật liên quan (Control Objection and Related Technology – gọi tắt là CoBIT). Ngoài ra, tổ chức nghề nghiệp ở một số quốc gia đã xây dựng và ban hành các Khuôn khổ về KSNB, trong đó nổi bật là Báo cáo COSO 19 95 (Criteria of Control Board of Canadian Institute of Chartered Accountants) của Hiệp hội Kế toán viên Công chứng Canada. Năm 1992, báo cáo COSO về KSNB được ban hành; bao gồm 05 thành phần: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và giám sát. Đặc điểm nổi bậc của báo cáo COSO là một tầm nhìn rộng và mang tính quản trị, trong đó KSNB không còn chỉ là một vấn đề liên quan đến báo cáo tài chính mà được mở rộng ra cho các lĩnh vực hoạt động và tuân thủ .3 Định nghĩa hệ thống kiểm soát nội bộ theo COSO Định nghĩa KSNB do COSO đưa ra năm 1992: KSNB là một quá trình bị chi phối bởi người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện mục tiêu dưới đây: - Báo cáo tài chính đáng tin cậy.
- Các luật lệ và quy định được tuân thủ. - Hoạt động hữu hiệu càng hiệu quả. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Trong đó, hiểu theo cách khai quát nhât là: KSNB là một quá trình, bởi: HTKSNB không chỉ là một thủ tục hay một chính sách được thực hiện ở một vài thời điểm nhất định mà được vận hành liên tục ở tất cả mọi cấp độ trong doanh nghiệp. KSNB được thiết kế và vận hành bởi con người: Vì KSNB không chỉ là những chính sách, thủ tục, biểu mẫu đơn điệu, độc lập.mà phải bao gồm cả yếu tố con người - Hội đồng quản trị, ban giám đốc, nhân viên của tổ chức.
Chính con người định ra mục tiêu kiểm soát và thiết lập nên cơ chế kiểm soát và vận hành chúng. Cụ thể: hội đồng quản trị và các nhà quản trị cấp cao chịu trách nhiệm cho việc thiết lập một văn hóa phù hợp nhằm hỗ trợ cho quy trình KSNB hiệu quả, giám sát tính hiệu quả của hệ thống này một cách liên tục. Tất cả các thành viên của tổ chức để tham gia vào quy trình này. Bên cạnh đó, không thể yêu cầu tuyệt đối thực hiện được các mục tiêu đối với KSNB mà chỉ có thể yêu cầu cung cấp một sự đảm bảo hợp lý trong việc thực hiện mục tiêu.
Nguyên nhân bởi luôn có khả năng tồn tại những yếu kém xuất phát từ sai lầm của con người khi vận hành hệ thống kiểm soát, dẫn đến việc không thực hiện được mục tiêu. Việc KSNB có thể làm là ngăn chặn và phát hiện sai phạm nhưng không thể đảm bảo chắc chắn sẽ không xảy ra sai phạm nữa. Bên cạnh đó, quyết định của KSNB còn tùy thuộc vào nguyên tắc cơ bản: sự đánh đổi lợi ích - chi phí, chi phí kiểm soát không được vượt quá lợi ích mong đ ợi từ quá trình kiểm soát. Vì vậy, KSNB chỉ cung cấp một sự đảm bảo hợp lý, chứ không đảm bảo tuyệt đối là các mục tiêu sẽ được thực hiện.
Mỗi đơn vị thường có các mục tiêu kiểm soát cần đạt được để từ đó xác định các chiến lược cần thực hiện. Đó có thể là mục tiêu chung của toàn đơn vị hay mục tiêu cụ thể cho từng hoạt động, từng bộ phận trong đơn vị. Một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu có thể cung cấp sự đảm bảo hợp lý đạt được các mục tiêu liên quan như tính đáng tin cậy của báo cáo tài chính, sự tuân thủ pháp luật và các quy định. Để đạt được các mục tiêu này, cần dự trên cơ sở các chuẩn mực đã được thiết lập.
Kết quả đạt được phụ thuộc vào môi trường kiểm soát, cách thức đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát của đơn vị, hệ thống thông tin trường t hông và vấn đề LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.4 Nội dung và mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ: Nội dung của HTKSNB theo Quyết định số 36/2006/QĐ-NHNN ban hành ngày 01/8/2006 được hiểu là bao gồm các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ, cơ cấu tổ chức của tổ chức tín dụng được thiết lập trên cơ sở phù hợp với pháp luật hiện hành và được tổ chức thực hiện nhằm đảm bảo phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý kịp thời các rủi ro và đạt được các mục tiêu mà tổ chức đã đặt ra. Bên cạnh đó, mục tiêu của HTKSNB cũng chỉ rõ là: thực hiện các mục tiêu, chính sách lớn của tổ chức, th ông qua việc thực hiện các mục tiêu cụ thể, chủ yếu sau đây: + Hiệu quả và an toàn trong hoạt động; bảo vệ, quản lý, sử dụng tài sản và các nguồn lực một cách kinh tế, an toàn và có hiệu quả. + Bảo đảm hệ thống thông tin tài chính và thông tin quản lý trung thực, hợp lý, đầy đủ và kịp thời. + Bảo đảm tuân thủ pháp luật và các cơ chế, quy trình, quy định nội bộ.
Tuy nhiên, theo COSO 1992 thì nội dung của HTKSNB: thực chất là các hoạt động, biện pháp, kế hoạch, quan điểm, nội quy chính sách và nỗ lực của mọi thành viên trong tổ chức để đảm bảo cho tổ chức đó hoạt động hiệu quả và đạt được những mục tiêu đặt ra một cách hợp lý. Và mục tiêu được đưa ra là có 4 mục tiêu chính được xác định rõ ràng và phân chia đề u cho 2 dạng của HTKSNB: + Bảo vệ tài sản của tổ chức. + Đảm bảo thông tin kế toán chính xác và tin cậy. + Thúc đẩy hiệu quả hoạt động kinh doanh.
+ Khuyến khích sự gắn bó của công nhân viên đối với các chính sách của công ty. Nhìn chung ta thấy có sự phát triển rõ rệt giữa hai nội dung mà COSO đã phát triển từ năm 1992 đến năm 2006. Phần nội dung và mục tiêu của HTKSNB năm hai 2006 chặt chẽ hơn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 về tầm bao quát công việc và mục tiêu làm việc cũng được làm rõ hơn.2 Các yếu tố cấu thành của hệ thống kiểm soát nội bộ Trong nội dung báo cáo COSO năm 1992, năm yếu tố cấu thành của HTKSNB bao gồm môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát. Đây là kết quả làm việc của Ban soạn thảo sau rất nhiều cân nhắc và xe m xét ý kiến đóng góp từ nhiều nguồn khác nhau và hình 2.1 thể hiện rõ những yếu tố cơ bản đã trình bày, mà cụ thể là: + Môi trường kiểm soát, bao gồm việc tạo lập một cơ cấu và kỷ cương trong toàn bộ hoạt động của đơn vị.
+ Đánh giá rủi ro, liên quan đến việc nhận biết, phân tích và lựa chọn những giải pháp đối phó với các sự kiện bất lợi cho đơn vị trong việc thực hiện các mục tiêu. + Các hoạt động kiểm soát bao gồm các phương thức cần thiết để kiểm soát như xét duyệt, phân quyền, kiểm tra, phân tích rà s oát … trong từng hoạt động cụ thể của đơn vị. + Thông tin và truyền thông liên quan đến việc tạo lập một hệ thống thông tin và truyền đạt thông tin hữu hiệu trong toàn tổ chức, phục vụ cho việc thực hiện tất cả các mục tiêu KSNB. Trong điều kiện tin học hóa, hệ thống thông tin còn bao gồm cả việc nhận thức, phát triển và duy trì hệ thống phù hợp với đơn vị.
+ Giám sát bao gồm các hoạt động kiểm tra và đánh giá thường xuyên và định kỳ nhằm không ngừng cải thiện KSNB, kể cả việc hình thành và duy trì công tác KSNB. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 Năm yếu tố cấu thành hệ thống KSNB 2.1 Môi trường kiểm soát MTKS là nền tảng ý thức, là văn hóa của tổ chức tác động đến ý thức kiểm soát của toàn bộ thành viên trong tổ chức. Hay nói cách khác, MTKS được xem là nền tảng cho tất cả các yếu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 tố khác trong KSNB nhằm xây dựng những nguyên tắc và cơ cấu hoạt động phù hợp , tạo lập một nền nếp kỷ cương, đạo đức và cơ cấu cho tổ chức. Nó thể hiên thông qua tính kỷ luật, cơ cấu tổ chức, giá trị đạo đức, tính trung thực, triết lý quản lý, phong cách điều hành… Tính trung thực, giá trị đạo đức và năng lực làm việc của nhân viên trong công ty: Sự phát triển của một công ty luôn gắn liền với đội ngũ nhân viên.
Mỗi nhân viên là một chi tiết cấu thành nên bộ máy c ủa công ty. Vì vậy, tính trung thực và đạo đức của nhân viên cao sẽ tạo môi trường thuận lợi để liên kết và phát huy sức mạnh tập thể giúp công ty hoàn thành kế hoạch, đạt được mục tiêu của mình. Đội ngũ nhân viên là chủ thế trực tiếp thực hiện mọi thủ tục kiểm soát trong hoạt động của công ty, nếu nhân viên có năng lực, tin cậy, học vấn cao, đáng tin cậy nhiều quá trình kiểm soát có thể không được thực hiện thì vẫn đảm bảo được các mục tiêu đề ra của KSNB. Bên cạnh đó, mặc dù doanh nghiệp có thiết kế và vậ n dụng các chính sách, thủ tục kiểm soát chặt chẽ nhưng với đội ngũ nhân viên kém năng lực trong công việc và thiếu trung thực về phẩm chất đạo đức thì HTKSNB không thể phát huy hiệu quả.
Để có được một đội ngũ nhân viên tốt, các nhà quản lý DN cần có nhữn g chính sách cụ thể và rõ ràng về tuyển dụng, đào tạo, sắp xếp, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật nhân viên.